Phả ký dòng họ Phùng Quốc Công

LỊCH SỬ DÒNG HỌ 

PHÙNG QUỐC CÔNG

Ông Phùng Quốc Công (1735-1815) là Thủy Tổ của hơn 2500 hậu duệ với 12 thế hệ dòng họ Phùng, để phân biệt với các dòng Phùng khác, sau này, các hậu duệ đã trân trọng gọi tên dòng họ là “Dòng họ Phùng Quốc Công”, theo tên của Thủy Tổ.

Thủy Tổ Phùng Quốc Công (1) sinh ra trong thời kỳ Lê Mạt- Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước trong cảnh nội chiến. Theo ghi chép của dòng họ thì ông sinh ra và lớn lên tại Hu Trì, Vĩnh Bảo, thuộc tỉnh Đông (nay là xã Hu Trì, xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng).

Vợ chồng Thủy Tổ Phùng Quốc Công (1) sinh hạ được 2 con trai là Phùng Quốc Bảo (2) và Phùng Quốc Huy (2). Gia đình Thủy Tổ làm nghề chài lưới  ven theo sông Chanh, sông Luộc…

“Cách đây hơn 200 năm, vào cuối thế kỷ XVIII, thời kỳ Lê Mạt và Trình Nghuyễn phân tranh, đời sống nhân dân khắp nơi vô cùng cực khổ. Tỉnh Đông (tên gọi cũ của tỉnh Hải Dương) thuở ấy, từ Chí Linh, Đông Triều đến Vĩnh Bảo đều trong cảnh khổ chung của đất nước.

Thuở ấy, tại làng Hu Trì, huyện Vĩnh Bảo thuộc tỉnh Đông là một làng ven biển, có một gia đình nghèo không đủ ruộng cày, hai vợ chồng cùng hai con trai phải ra sông Chanh kiếm cá, rồi lại ngược sông Chanh ra sông Luộc, tiếp tục ngược sông Luộc tới làng Thượng là chỗ ngã ba: sông Cửu An, đổ ra sông Luộc gọi là xóm Cửa Sông thuộc làng Thượng”. Đó là gia đình ông bà Thủy Tổ Phùng Quốc Công (1) cùng hai con trai Phùng Quốc Bảo (2) và Phùng Quốc Huy (2).

“Làng Thượng lúc ấy còn chung với làng Hạ, Sỹ Quý, Thị Giang gọi là My Động xã (nhất xã tam thôn). Chỗ này sẵn cá, ba cha con dựng lều, kéo vó và làm chài. My Động xã lúc ấy lơ thơ thưa thớt. Nông dân nhiều nơi đến khai khẩn đất bãi và dựng lên làng xóm. Ba cha con ông chài cũng lên bãi nhận đất cấy trồng và xây dựng cơ ngơi vững chắc.

Sau thời gian củng cố nghề nông và nghề cá vững vàng, kinh tế ổn định, người cha là Phùng Quốc Công bàn với người mẹ, đưa người con cả là Phùng Quốc Bảo trở về quê cũ Hu Trì để củng cố quê hương. Người con thứ là Phùng Quốc Hu (được đọc là Huy) được ở lại xóm Cửa Sông với nhân dân làng Thượng và được cha mẹ hỗ trợ, xây dựng gia đình, mở mang cơ nghiệp, cùng với các họ hàng trong làng Thượng xây dựng lên xã My Động ngày càng đông đảo, giàu mạnh.

Thời kỳ này là giai đoạn ổn định của đầu Triều Nguyễn Gia Long, đất nước thanh bình, nông dân được xả hơi và có điều kiện tăng gia sản xuất. Anh em ông Bảo, ông Huy là những người vùng biển cao to, sức khỏe hơn người, lao động cần cù sáng tạo, kinh tế mau thịnh vượng. Cả hai nơi (Hu Trì và My Động) đều làm ăn phát đạt, kinh tế dồi dào, gia đình hạnh phúc”.

Gia đình người anh

Vợ chồng ông bà Phùng Quốc Bảo (2) định cư tại Hu Trì-Vĩnh Bảo, ông bà có 1 con trai là Phùng Quý Công tự Pháp Đài (3).

Ông bà Phùng Quốc Quý tự Pháp Đài (3), sinh hạ được 7 con trai:

  1. Phùng Văn Hề tự Phúc Lộc (4), Tổ Huynh của Chi Khả, Duyên Hà-Thái Bình
  2. Phùng Quý Công tự Phúc Thọ (4), Mãnh Tổ
  3. Phùng Văn Đạt tự Pháp Quy (4), Tổ Đệ của Chi Khả, Duyên Hà-Thái Bình
  4. Phùng Quý Công tự Pháp Năng (4), tổ chi Khả, Duyên Hà- Thái Bình
  5. Phùng Văn Viêm (4) tự Phúc Khiêm, tổ chi 1 ngành Vĩnh Bảo
  6. Phùng Công Đệ (4) tự Pháp Nhiên , sinh ra tổ chi 2, 3, 4, 5 ngành Vĩnh Bảo
  7. Phùng Công Môn (4) tự Chính Chân, Mãnh Tổ

Vào khoảng thập niên 50, 60 của thế kỷ 19, thời vua Tự Đức (trị vì: 1847-1883), thực dân Pháp tràn vào đô độ Việt Nam, họ Phùng tại Hu Trì- Vĩnh Bảo di tản khắp nơi kiếm kế sinh nhai. Hai anh em ruột ông Phùng Văn Hề (4) (1805-?) và ông Phùng Xuân Đạt (4) (1810-?)- là hậu duệ đời thứ 4 của thủy tổ Phùng Quốc Công (1)- làm nghề [buôn bán] bông vải, men theo sông Chanh, sông Luộc về Bến Lậu (nay thuộc thôn Khả, xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà, Thái Bình) định cư, sinh cơ lập nghiệp. Bến Lậu là một khu đồng bằng, được phù sa bồi đắp, đất đai phì nhiêu, dân cư còn thưa thớt. Cách Bến Lậu khoảng 7km về phía tây là My Động xã (gồm My Động (làng Thượng, làng Hạ), Sỹ Quý, Thị Giang- nhất xã tam thôn), xóm Cửa Sông, nơi đây họ Phùng tại My Động đã lập nghiệp và phát triển được gần trăm năm. Họ Phùng thôn Khả cách quê cũ Hu Trì, Vĩnh Bảo khoảng 30km về phía Bắc.

Hậu duệ của ông bà Phùng Văn Hề (4) (vợ là bà Phiên Thị Hiệu (4)),  theo Đạo, đây là một yếu tố không mấy thuận lợi trong bối cảnh lịch sử, khi vào thời vua Tự Đức, Đạo Chúa bị cấm đoán, đàn áp. Sau này các con cháu ông bà Hề phải di cư vào Nam, nơi mà Đạo Chúa được người Pháp (khi đó Pháp đã xâm chiếm Miền Nam) khuyến khích, bảo hộ phát triển mạnh. Hiện nay không còn rõ tin tức hậu duệ của ông Hề.

Ông Phùng Văn Hề (4) cùng với ông Phùng Xuân Đạt (4) là 2 ông Tổ của họ Phùng thôn Khả. Vào những năm cuối thế kỷ 20, các con cháu đã kiến thiết xây dựng mộ hai ông khang trang, to đẹp. Ngày nay họ Phùng thôn Khả (hậu duệ ông Đạt) có hơn 70 hộ, là anh trưởng của ngành họ phùng tại Vĩnh Bảo, họ Phùng My Động, một phần ruột thịt của họ Phùng Quốc Công.

Gia đình người em

Ông bà Phùng Quốc Huy (2) (hay Phùng Văn Hu) sinh hạ được 5 con trai:

  1. Phùng Đình Phàn (3)
  2. Phùng Đình Khoái (3)
  3. Phùng Đình Đại (3)
  4. Phùng Đình Đàn (3)
  5. Phùng Đình Xuyên (3)

Cả năm người đều cao to, khỏe mạnh, học giỏi, chăm làm và ai cũng thích rèn luyện võ nghệ. Lúc ấy, gia đình ông Huy (3) đã có uy tín trong vùng. Ba người con lớn hiền hậu và sớm nhận thức được lập gia đình gây cơ nghiệp là hiếu trung đạo lý. Người con thứ tư thích giao du, tinh thông võ nghệ, được các bậc nhân hào trong vùng trọng dụng để gây mưu cơ chống thực dân Pháp và bọn quan lại tay sai thân Pháp. Nhưng lực mỏng không thành, ông lại trở về nhà vâng lời cha mẹ, lập nghiệp muộn hơn. Bốn người con của ông Huy đã cùng nhau lập nghiệp ở xã My Động từ lúc đất này mới sơ khai. Các ông đã nhận thức đúng câu thành ngữ “nông dả bản dã” (nghề nông là gốc), với tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, đạo đức khiêm nhường, tình cảm nhân ái với xóm thôn. Con cháu các ông ngày càng đông đảo, hình thành 3 ngành của họ Phùng tại My Động ngày nay.

Người con thứ 5 là Phùng Đình Xuyên (4) được cha mẹ anh chị yêu chiều, ông rất chăm học, chăm làm, say mê nuôi dạy cầm thú và rèn luyện võ nghệ. Năm 15 tuổi ông đã theo ông Phùng Đình Đàn (4) tới các nhà bạn bè, nhà các vị thôn hào thân sỹ để biểu diễn, thi thố võ quyền và song kiếm được nhiều người quyền thế trong vùng ái mộ.

Năm 17 tuổi ông cùng bạn bè đi săn bắt cách đêm rồi sau đó nghỉ học đi theo con đường săn bắn võ nghệ và quyết tâm nuôi chí lớn.

Nhưng lần này ông vĩnh biệt quê hương, một đi không trở lại, mấy chục năm sau cũng không ai biết tin gì về ông. Mãi sau này, kho ông bị giặc Pháp theo dõi truy tìm, con cháu mới biết ông đã nhập nghĩa quân Yên Thế chống Pháp. Cuộc khởi nghĩa Yên Thế không thành, ông đã thay hình đổi dạng thành người tu hành về đền Kiếp Bạc phụng thờ Hưng Đạo Vương cho đến ngày tận thế.

Sau ngày mất, ông đã về quê báo mộng cho nhiều thế hệ con cháu những việc dữ sắp xảy ra và truyền phán cho con cháu cách chống đỡ đề phòng.

Trong giới hạn của lòng tín ngưỡng pha chút tự hào, cả họ Phùng đã đội ơn ông, tôn vinh ông như một vị thần linh. Đầu thế kỷ XX họ nhà đã lập đền thờ ông. Đã ông Phùng Văn Thìa (8) trông nom đền và ông Phùng Văn Duyên (7) Trưởng Tộc thế hệ 7 làm văn bài sớ tấu thờ cúng Mãnh Tổ Phùng Đình Xuyên (4) quanh năm. Trong kháng chiến chống Pháp ngôi đền bị tàn phá nay các hậu duệ thứ 10, 11 lại khội phục đền, bài vị của ông được đặt bên phải bài vị Thủy Tổ Phùng Quốc Công (1) trong từ đường Phùng tộc. Hàng năm cứ đến ngày 27/3 âm lịch nhiều nhà trong họ cũng giỗ ông, hoặc tập trung tại nhà trưởng tộc để dung giỗ, nghe tiểu sử ông để tỏ lòng hậu thế tri âm và tưởng niệm tổ tông…

(còn nữa)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s