Hoa tàu bay: 9. Chết chóc, tù đày

HOA TÀU BAY

Tác giả: Phùng Viễn

9. CHẾT CHÓC, TÙ ĐÀY

***

Nguyên cớ của nó đều là là do nhà này có người đi Việt Minh. Tất nhiên tôi ác gây ra chết chóc, tù đày là do giặc Pháp và bọn Việt gian. Nhưng cái cớ vẫn là do cái đầu của ông Trần Vĩnh. Bọn giặc Pháp đã treo thưởng khi chiếm đóng thị xã Ninh Giang cho kẻ nào lấy được đầu ông ta. Khi mà không lấy được đầu ông ta thì tất cả dẫn đến người nhà ông ta phải chết chóc hoặc tù đày. Thậm chí, gia đình ông ta một lần nữa lại tan tác.

Cái lạnh mùa đông năm ấy cứ kéo dài lê thê. Người ta chạy giặc chán rồi thì cái thế của dân chúng cũng phải đi vào một sự định hình. Dân thị xã và các làng quanh đồn bốt giặc thì phải thành làng tề. Những địa phương giặc không kiểm soát được thì ta củng cố vùng tự do và chính quyền kháng chiến.

Ngay từ khi cha tôi vào hội kín ông tôi đã có nghi ngờ nhưng cũng không biết, cho đến khi, đùng một cái, cướp chính quyền. Rồi xuất hiện một ông Trần Vĩnh làm chủ tịch lâm thời thị xã. Tất cả những biến coó ấy chỉ làm cho ông tôi luôn lo lắng. Cụ lúc nào cũng như ngồi trên đống lửa, nhưng cụ bình thản chẳng nói ra. Ông tôi thương cho con, cho cháu. Cụ cũng xác định được rằng: mỗi người đều phải có trách nhiệm với xã hội. Nhưng con cụ thì trách nhiệm nặng hơn, mà cụ thì lòa, chẳng giúp được gì cho con. Theo ông tôi, giúp tức là để cho cha tôi được rảnh tay với công việc, khỏi phải bận tâm đến sự tàn tật của mình. Nhưng trời đâu có cho ông tôi sáng mắt. Thực ra, khi giặc chiếm đóng thì cha tôi đâu còn là chủ tịch thị xã nữa. Nhưng bọn giặc đâu có biết điều đó. Chúng cứ cho thông cáo treo thưởng người “lấy đầu” cha tôi. Tin này rồi ông tôi cũng biết, ông cụ sợ hãi dến bồn chồn, mà nó còn như dao cắt vào ruột nữa. Càng mong tin con, tin cháu thì càng bặt tin. Dân thị xã đã về gần hết, còn số người chuyển đi Hải Phòng, Hà Nội cũng chẳng bao giờ về nữa. Ông tôi nghĩ rằng, có lẽ gia đình tôi sẽ chẳng bao giờ về được nữa, giặc bắt được nó sẽ giết hết, hoặc đã bị bom đạn vùi lấp rồi? Ông có biết đâu, ngoài kia bố tôi đang vẫn phải ngày đêm bom đạn, liên lạc với tổ chức để thịnh thị trước khi cho gia đình về thị xã. Thế là ngay từ những ngày đầu “tiêu thổ kháng chiến”, bố tôi là người đầu tiên châm lửa đốt nhà mình, bây giờ lại là gia đình cuối cùng trở lại thị xã. Sự chậm trễ đó đã dẫn ông tôi đến sự tuyệt vọng. Cộng thêm việc, ngày nào bọn giặc và Việt gian cũng rình mò, xét hỏi, dọa nạt, khiêu khích, chúng chẳng để những người còn lại (ông tôi và mẹ già của cha tôi) trong gia đình tôi được yên.

Gia đình mà cha tôi đang gánh trách nhiệm là một gia đình rất đặc biệt, có tới bốn cụ già, một cụ ông (bố dượng của cha tôi) và ba cụ bà (ba người mẹ của cha tôi, trong đó có mẹ ruột). Tất cả là do cuộc đời, đầy những hoạn nạn, cộng với bao nỗi thống khổ, đã đưa đẩy các cụ đến với nhau và cùng phải nương nhờ vào một người con trai duy nhất, đó là cha tôi. Lúc bấy giờ cha tôi tên là Trần Vĩnh, mang họ của dượng. Ngày ấy, bố ruột của cha tôi là một người phu poóc-tê, họ Phùng tên Vui, đã xây dựng gia đình với một người phụ nữ quê ở Lai Cách, Cẩm Giàng, đó chính là mẹ già của cha tôi. Cũng là do cuộc sống lam lũ, cụ Vui phải rời quê Bến Trại ra đi để kiếm kế sinh nhai, còn cụ bà phải tha hương cầu thực, họ đã gặp nhau và nên duyên ở thị xã Ninh Giang này. Nhưng cuộc sống gia đình không có được hạnh phúc trọn vẹn vì, nhiều năm sau, các cụ vẫn không thể có được một người con. Cụ bà vừa mong mỏi có con vừa thương chồng nên đã tìm cho chồng một người phụ nữ trẻ quê ở Cổ Am – Vĩnh Bảo, một người phụ nữ chịu thương chịu khó, cùng cảnh ngộ với hai vợ chồng cụ. Sự đồng cảm đã đưa đẩy gia đình ba người sống sum vầy bên nhau, thế rồi người phu poóc-tê và người vợ trẻ đã sinh ra được một người con trai, đó chính là cha tôi. Nhưng niềm hạnh phúc của gia đình nhỏ chẳng kéo dài được bao lâu, khi cha tôi chưa đầy hai tuổi, đang lẫm đẫm biết đi, ông đã chịu cảnh mồ côi cha. Sau này, mẹ ruột của cha tôi tái giá và trở thành vợ cả của cụ Chiểu, đó chính là cha dượng của cha tôi, người ông đã gắn bó với tuổi thơ của tôi. Hai cụ chỉ có với nhau được một người con gái, đó là bà Kim, người em cùng mẹ khác cha với cha tôi. Cụ Chiểu mù lòa nên rất mong mỏi có được người con trai, vợ hai của cụ Chiểu quê ở Tài Giá- Thái Bình, chỉ sinh thêm được cho cụ một người con gái duy nhất, đó là bà Khuyên. Một gia đình do cuộc đời chắp vá, giờ đây mọi tình cảm, niềm hy vọng và cả trách nhiệm đang hướng về cha tôi.

Càng mong tin con cháu thì càng biệt vô âm tín. Cụ Chiểu bấm lại số tử vi của chính mình thì thấy rõ cả ngày giờ, tháng, năm tuyệt mệnh đã đến. Nỗi tuyệt vọng đã đến đỉnh điểm. Đêm hôm ấy là đêm rằm tháng mười một, trời rét căm căm, nhưng trăng lại tròn vành vạnh. Ông tôi chẳng sáng mắt nhưng cụ hình dung ra được rằng ánh trăng sáng kia cũng chẳng làm vui được hai con người già cỗi trong căn nhà im lìm, buồn thảm. Hai gian buồng đều bỏ chống, nhà ngoài kê chiếc giường ông tôi nằm, còn mẹ già của cha tôi thì trải ổ nằm góc nhà đằng kia. Ông tôi đoán rất sát thời gian nhưng cũng chẳng tin được những giác quan của chính mình. Cụ ông hỏi cụ bà: “Bà ơi, bóng trăng chấm giọt gianh chưa?”. Cụ bà mở cửa lần ra ngoài, một lát cụ trở vào và nói: “Bóng trăng sắp chấm giọt gianh rồi ông ạ!… mà ông hỏi làm gì?”. “Chẳng ngủ được thì tôi hỏi thế thôi!”. Căn nhà im lìm trở lại, chẳng ai nói với ai. Sáng hôm sau, khi còn rất sớm, cụ bà đã gọi: “Ông ơi! Sáng rồi đấy ông ạ!”. Không thấy có tiếng trả lời. Cụ bà lại gần giường cụ ông nhưng không thấy cụ ông đâu cả. Từ đêm qua cụ ông đã xuống ao chẫm mình trong làn nước lạnh. Cây dừa nghiêng thản nhiên soi bóng xuống làn nước, đúng nơi cụ ông ra đi. Cụ bà khóc chẳng nên lời, cái miệng móm mém thiểu não đau thương. Cụ vội vàng đi gọi ông Bếp Cửu đến giúp cho. Vì nơi cụ Chiểu chẫm mình xuống quá nông nên khi người ta vớt cụ lên thì thấy cụ ra đi từ biệt cõi đời trong tư thế “tọa thiền”, hai tay còn chắp trước ngực.

Ông tối mất rồi, chỉ còn lại mẹ già của cha tôi, cụ lủi thủi một mình trong căn nhà ảm đạm. Cụ lọ mọ chỗ này, chỗ kia, miệng cứ lẩm bẩm rằng: “Vì quyết không chịu cho giặc làm nhục nên ông ấy ra đi, thế là ông ấy sướng! Còn mình thì chẳng chết đi được!”. Nhưng cụ lại nghĩ: “Ngộ nhỡ vợ nó đem được các cháu về mà mình lại chết nữa thì khổ cho chúng nó quá!”. Thế là cụ lại nuôi một niềm hy vọng mỏng manh, để cố mà sống.

Ở một nơi kia, cha tôi đã tìm được lại gia đình, thằng bé lạc nhà cũng được ông gom nhặt lại trong bao nỗi chuân chuyên. Nhưng sự đoàn tụ ấy chẳng được bao lâu thì tin sét đánh đã ập xuống. Có người ra báo tin cho biết ông tôi đã mất. Cả nhà khóc ròng. Riêng thằng tôi- thằng bé lạc nhà vừa mừng tủi, thì nay nó lại mất ông. Trong hoàn cảnh chạy loạn, người lớn cũng cố quấn lên đầu tôi mảnh khăn tang. Tôi nhớ hôm đó nhà tôi đang ở trên cánh đồng Chiền, trong một căn lều rạ. Cách lều vài bước, người lớn đặt ba hòn đất vãng cày thay ba ông đầu rau, làm bếp đun nấu. Nghe tin ông mất, tôi xụt xùi khóc và chỉ còn biết chạy lại chỗ ba ông đầu rau tâm sự với các vị vua bếp. Sau đó, tôi thấy khổ quá, vớ lấy chiếc que rẽ, khảo lên đầu các vị vua bếp mà rằng: “sao mày để cho ông tao chết!”. Tôi cứ khảo đi, khảo lại mãi như thế trong nỗi tuyệt vọng. Mắt tôi cứ rưng rưng ngấn nước vì nỗi nhớ ông vôn vàn. Tôi cũng mong manh rằng gia đình tôi sắp về tề, chỉ bố tôi là ở lại với kháng chiến, chạy quanh mãi thì cũng đến về mà thôi. Nhưng về thì tôi cũng chẳng được gặp ông nữa. Những câu chuyện kể, bàn tay xoa lưng giúp tôi có những giấc ngủ ngon, giờ đây đã chấm dứt. Nghĩ vậy nên tôi lại bật ra tiếng khóc, miệng tôi cứ mếu máo hoài.

Thế rồi vào một buổi chiều đông giá lạnh, cả nhà tôi luồn về gần đến thị xã, lúp kín trong một lùm cây, chờ màn đêm buông xuống, rồi lặng lẽ buổn về nhà theo một sự chỉ dẫn. Đêm hôm đó, tôi được gặp bà cụ già (mẹ già của cha tôi), tất nhiên bà cụ cả (mẹ ruột của cha tôi), bà cụ hai (mẹ kế của cha tôi, tức vợ kế của ông dượng) cũng về cùng chuyến đó. Kể sao hết nỗi mừng mừng, tủi tủi. Nhưng vẫn phải lặng lẽ. Mẹ tôi thì nơm nớp lo về chuyện khai báo. Ba ngày sau, tôi thấy ông Nhường, thày giáo của tôi hồi nào, đến nhà với cương vị là ông lý trưởng tề, với quyển sổ hộ tịch to tướng trên tay. Ông ta nói chuyện với mẹ tôi bằng vẻ mặt lạnh ngắt. Tôi cũng muốn hóng chuyện nhưng bị mẹ tôi lừ mắt, bắt đi chơi.

Những ngày đầu, chạy ra khỏi cửa là thấy cây dừa ở bờ ao, nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước. Đi đâu về cũng lại chỉ thấy cây dừa và mặt nước mà chẳng thấy ông tôi đâu. Đêm đến lại giọng kể đều đều của bà cụ già tôi về cái chết hôm nào của ông. Nếu như mẹ tôi về sớm hơn thì có lẽ chẳng xảy ra chuyện. Nhưng rồi sự thể như bát nước nguộn dần. Thời gian qua đi, nỗi ám ảnh về chết chóc cũng nguôn dần…

Sau bao tháng dầm mưa dãi nắng, lội ngòi, chạy giặc trong những đêm giá lạnh, bọn trẻ con ốm đau nhiều, nhưng nhờ trời phật chúng vẫn qua khỏi và cũng chóng lại người. Bà cụ cả vẫn giữ được sức khỏe hơn, còn bà cụ hai thì quá hom hem, trụ lại được cho đến khi về tề thì sức khỏe cứ suy kiệt dần. Phần vì quá đau buồn trước cái chết của chồng, phần vì sức yếu, bà cụ hai lâm bệnh nặng rồi qua đời. Thằng bé lạc nhà khóc ông, rồi giờ lại khóc bà, tôi làm sao quên được những buổi sáng rang cơm, bà đã lấy cơm cho tôi, những buổi tối làm hàng quà, bà thường cho tôi nắm nhân đỗ xanh, những buổi đi học về muộn bà đem xuất cơm phần ra cho tôi ăn. Thế là bát nước nóng lại phải nguội dần, lần thứ hai. Từ nay, mỗi khi về tôi lại chẳng được thấy bà đun nấu, dọn dẹp trong bếp nữa. Tôi tần ngần nhìn vào đám củi đuốc trong bếp rồi lặng lẽ đi lên nhà…

Bất kể nỗi đau buồn, cảnh hoạn nạn trong gia đình này, dân chúng của thị xã ấy cứ buôn, cứ bán. Tàu khách cứ chạy ngoài sông Luộc. Xe ô tô khách vẫn qua lại trên tuyến Ninh Giang- Hải Dương, rồi Ninh Giang-Hải Phòng. Nhưng cái nhộn nhịp làm ăn buôn bán ấy dù có tấp nập đến đâu thì người ta vẫn nơm nớp lo âu. Mới ngày hôm qua đây, bọn Tây say, nó đu đổ cả quầy rượu bia ngoài chợ. Bọn phản động thì mọc lên như nấm ở các nơi. Chúng chỉ điểm bừa bãi. Đang đêm, xe xịnh xịch đỗ trước cửa nhà, một người dân lương thiện lại bị chúng chói lại, tống lên xe, chạy tút qua cổng thép gai trong đồn. Hàng ngày, máy bay lên xuống ngoài sân bay. Chúng ráo riết hoạt động quân sự. Ngoài sông thì tàu chiến về đậu, trên cột tàu phấp phới là cờ tam tài(*). Bọn Pháp bến bãi te-ranh (sân vận động) thành bãi pháo, những khẩu đại bác nòng trỏ về một làng quê  nào đó rồi nhả súng…

Từ khi về lại thị xã, mẹ tôi chắt chiu xắm được gánh hàng, buôn bán trở lại ngoài chợ. Cô con gái lớn của bà đã có thể phụ giúp mẹ việc chợ búa. Một hôm có một người đàn bà đến mua hàng, rồi lợi dụng lúc không để ý, bà ta dúi cho vào tay mẹ tôi một mảnh giấy. Xem xong, mẹ tôi đốt luôn, chẳng rõ đấy là mối liên hệ gì? Mấy hôm sau, có bác Thực gái, là chỗ quen biết cũ của gia đình tôi, từ làng Nhống bên kia sông sang mua hàng. Không biết có phải là tình cơ không mà sáng hom ấy, trước khi đi chợ, mẹ tôi còn dặn tôi rằng: “Tầm buổi thì dắt em ra chợ, mẹ cho quà!” Tôi thích lắm, chẳng những không bao giờ mẹ tôi như vậy mà còn cấm tôi không được ra chợ ấy chứ. Và thế là, chúng tôi gặp bác Thực, bác cho nhiều quà nên chúng tôi rất thích. Và càng hấp dẫn hơn khi bác nói ở bên kia sông còn nhiều thứ hơn, anh Thê – con bác- lại có nhiều lồng chim. Bác rủ anh em chúng tôi sáng đó chơi, chúng tôi chẳng có lý do gì mà không vui vẻ nhận lời, cùng bác sang Nhống.

Làng Nhống (thuộc Phục Dực, Thái Bình) có hai xóm ngoài bãi, cách nhau chừng bẩy – tám trăm mét. Nhà bác Thực ở xóm trên, ngoài bãi. Quả tình anh Thê có nhiều lồng chim, những con chim xanh này tôi thấy có nhiều người ở trên cây xanh đến Phủ Bà. Tuy là thằng bé nghịch ngợm, hay trèo cây, bắt chim, nhưng đã bao giờ tôi có được những con chim tuyệt vời này, nhất là chúng lại đang ở trong những chiếc lồng xinh đẹp. Anh Thê cho tôi một lồng chim và bảo hôm nào về lại thị xã thì đem theo về. Nhưng chuyến sang Nhống ấy chẳng phải sự vô tình, khi sang đến nơi thì bất ngời tôi được gặp cha tôi. Cha tôi vẫn đảm nhận công tác kinh tài như cũ. Chỉ có khác là giờ chẳng thấy hàng hóa gì, sổ sách giấy tờ cũng không. Cha tôi như một người quen ghé lại thăm nhà bác Thực mà thôi. Cha tôi nhớ chúng tôi, thấy tình hình thuận lợi nên kết hợp gặp các con. Vậy là chúng tôi được ở lại đó vài ngày. Kể cũng lạ, ch tôi nằm trên đất Thái Bình mà lại hoạt động cho Hải Dương, giờ tôi mới hiểu rằng đó là yếu tố bất ngờ.

Chẳng được như ý, tuy chỉ có mấy ngày thôi nhưng cha con tôi lại gặp nạn, may mà qua được. Sáng sớm hôm ấy, cha tôi dẫn chúng tôi xuống xóm dưới. Vì hàng hóa tập kết dưới đó. Cha tôi phải xuống cho chuyển đi gấp. Xong việc, cha tôi định dẫn chúng tôi về thì chủ nhà bảo cứ về trước còn để hai đứa trẻ ở lại chơi với bọn trẻ dưới này. Bên kia sông, phía Hải Dương, làng đối diện với bên này là làng Hóp, làng theo đạo Thiên Chúa và tất nhiên nó là làng tề. Nhà thờ làng Hóp trử thành bốt Hương Dũng. Khi cha tôi tới xóm dưới trở về xóm trên thì thấy bọn Hương Dũng đi ba thuyền, phải đến một trung đội, dạt lên bãi và la hò đổ vào xóm trên. Anh Thê thì kịp bơi qua đầm vào đê cái, còn cha tôi thì chẳng kịp chạy, ông lẩn vào trong bếp. Bác Thực trai người cũ kỹ, bị chúng chói lại, lôi ra đầu nhà, chúng chẳng thèm tra hỏi, vì mục đích của chúng là cướp bóc. Người già và trẻ con thì chúng không thèm đếm xỉa, cứ phá phách, bới lục lung tung. Một tên xông vào bếp, ngó nghiêng rồi quay ra. Trong bếp, cha tôi nằm dán mình sau chiếc tường đất, đó là tường của ngăn đổ chấu, nó cao bốn- năm tấc, nên tên cướp không phát hiện ra, hơn nữa, trong bếp tuềnh toàng chẳng có gì nên hắn cũng không thể ngờ rằng trong đó lại có người ẩn nấp. Lục lọi, vơ vét một hồi, chúng bắn mấy phát súng rồi kéo nhau xuống vơ vét xóm dưới.

Lúc đầy anh em tôi thì thích ở lại chơi, nhưng khi cha tôi về xóm trên rồi thì chúng tôi cũng đòi về. Chúng tôi dắt nhau về đến ngang đường thì thấy bọn Hương Dũng hò hét. Tôi vội dắt em lẩn ở sau một đống rơm. Bon chúng dình dịch chạy qua, và có một tên phát hiện ra chúng tôi. Hắn quay lại lột trần anh em tôi ra, thu lấy quần áo, ấn vào bị rồi vội vàng chạy theo đồng bọn. Thế là hai anh em tôi trần như nhộng, run như cầy sấy vì sợ.

Chúng rút khỏi xóm trên thì cha tôi cũng lội qua được đầm vào đê cái. Anh Thê cầm trên hai tay hai quả lựu đạn. Hai người chạy dọc sau đê cái. Khi nhận ra bọn Hương Dũng, tuy chúng đông nhưng chỉ có ba súng trường, hai người liền quyết định dọa đuổi chúng. Sau đê cái, một cánh tay vung lên. Một trái lựu đạn ném ra bãi, một tiếng nổ ầm trời. Tiếp theo là tiếng “xung phong” liên tiếp. Bọn kia đã kịp đốt một đóng rơm, khói um lên rồi bỏ chạy. Khi tuyền ra dến giữa sông chúng mới tắc bọp được mấy phát súng chiếu lệ.

Xóm làng trở lại yên tĩnh, đống rơm đã cháy hết thành đống tro tàn. Bác Thực được cởi chói, nhiều nhà mất quần áo và mất tiền. Anh em tôi phải mượn tạm quần áo của bọn trẻ và ngay chiều hôm đó được đưa trở lại thị xã Ninh Giang. Thật là một phen hú vía đối với anh em tôi.

Rất may, tổ chức kháng chiến của cha tôi không biết đến chuyện này. Còn việc công tác của cha tôi thì vẫn tốt, ông trưởng ban nghĩ ra cái kế chuyển hàng sang đất Thái Bình, rồi lại chuyển về Hải Dương, cái đó vô hại. Tuy vậy, nếu trong vụ đó mà một ông trưởng ban kinh tài của tỉnh phải chết vì mấy thằng lĩnh Hương Dũng thì không có gì đáng khen, mà còn bị thi hành kỷ luật nữa là khác. Ai bảo cha tôi lại đi líu nhíu với gia đình. Sau lần ấy, cha tôi không liều lĩnh về gần và gặp gỡ các con như vậy nữa. Tuy nhiên, có lần tôi vẫn được chạy lon ton theo chị Đào về chiến khu – trạm chung chuyển- Đào Lạng, thuộc xã Văn Hội (Ninh Giang), sống với cha tôi tại đó. Ở đó, tôi được đi học thày Minh, thày Thân ngoài đình làng. Nhưng rồi việc công tác kháng chiến, cha tôi không thể vướng víu con cái được nữa, tôi lại bị đưa về thị xã Ninh Giang, tới trường học cậu giáo Huỳnh. Tôi nhớ, mấy lần phải đi theo đoàn học sinh thị xã, mặc quần xoóc, cầm cờ Tam Tài, cờ vàng ba xọc, để đi đón các nhân vật quan trọng của chính quyền giặc như: ông Đờ-lát Đờ-tát-xi-nhi, người đứng đầu quân đội vĩnh chinh Pháp sang cướp bóc, bắn giết, đốt phá làng quê Việt Nam; như ông Bảo Đại, người tuyên bố thoái vị ở Huế; hay ông Trần Văn Hữu phủ thủ hiến Bắc Việt. Chính vì có các ông đó mà tề dõng nổi lên như sóng cồn ở khắp nơi. Một hôm, tôi thấy ông lý Nhường tới nhà tôi trong bộ quần áo trắng toát bằng vải toan, trên tay ngoắc một cái ô đen. Khi đã ngồi chỉnh tề, ông ta nói: “Chị nên vận động để anh ấy về. Bây giờ người Pháp đã có lệnh khoan hồng. Nếu anh ấy về thì tôi sẽ đứng ra bảo lãnh”. Mẹ tôi hiểu rằng, đây là vụ làm ăn lớn của ông lý Nhường. Nếu mẹ tôi nhận lời và bố tôi chịu về thì ông ta sẽ phát to. Nghĩ vậy, mẹ tôi trả lời: “Ông chẳng lạ gì ông Vĩnh nhà tôi, nếu ông ấy mà tìm được mẹ con tôi khi chạy loạn thì đã chẳng để cho mẹ con tôi về. Còn bây giờ làm sao ông ấy dám cho người của công ấy về đây được!”. Ông lý Nhường ra về một cách không vui vẻ, còn trong lòng ông ta phải nén sự căm giận như thế nào thì chỉ có trời mới biết.

Những ngày tháng đó là khoảng thời gian của chế chóc, tù đày đối với gia đình tôi. Tôi thì còn nhỏ nên không hiểu đầu rằng xung quanh gia đình tôi luôn có những rải lưới vô hình giăng mắc. Tôi chỉ biết nhảy chân sáo, chạy lẩn khắp nơi, đánh bi, đánh đáo. Buổi sáng đi học, về ăn cơm xong là biến mất. Chuyến xe ca đi Hải Phòng qua trước đền Phủ Bà, tôi nhảy lên xe, ngồi vắt vẻo trên nóc như con mèo, xuống đến Hới, tôi lại tụt xuống, chạy nhảy ở đó, rồi xe từ Hải Phòng về, tôi lại nhảy lên, theo về thị xã. Mẹ tôi sợ rằng “để con lành, nuôi con què” nên cho tôi sang nhà cụ Nho Đào, để bác Nam, con cụ, dạy nghề may cho tôi. Vào một đêm tối, ánh đèn pha ô tô nhà binh rực sáng, nó xịch đỗ trước cửa hiệu may, bác Nam bị bắt và bị chở đi làm phu ở nhiều đồn bốt. Vì không tìm được chứng cớ bác là Việt Minh nên, sau đó, chúng đành thả bác.

Có một sự chết chóc khác đã làm cho tề dõng và Việt gian bớt đi, đó là cái chết giành cho chúng dưới tay các đội Việt Hùng. Sáng hôm ấy, một buổi sáng hãi hùng, cũng chẳng kém Tây càn. Tôi bừng tỉnh chạy ra sân, mẹ tôi đã chi chợ. Tôi dứng ở góc dừa, nhìn ngược nhìn xuôi. Mặt ao phẳng lặng, trong xanh. Cái ao này rộng lắm, nhìn tận sang đằng kia thì thấy đường xóm Muối. Dưới mặt ao, lá sen ngồn ngang và những đóa hoa đỏ lác đác trong đám lá. Phía đằng này, ao kéo dài ra mãi sau đền, thông đến mãi con đường mà ô tô ca thường đi Hải Phòng. Nhưng con đường này tôi không thể nhìn rõ, một phần vì nó hơn xa, một phần vì bị rặng tre dây che khuất. Đúng chỗ thủng của rặng tre, tôi nhìn thấy một vật gì trắng lâm lấp bên vệ đường. Trời vẫn còn quá sớm, chưa có ai qua lại cả. Tôi chạy vòng qua đền, chim chóc đã ríu rít trên cành, nhưng cảnh đền còn vắng lặng. Khi ra tới đường, tôi xăm xăm chạy tới cái chỗ có vật trắng kia, cái mà tôi nhìn thấy lờ mờ qua ao làm tôi tò mò. Chao ôi! Ông Lý Nhường nằm chết ở đó, màu trắng mà tôi nhìn thấy chính là bộ quần áo toan của ông ta. Tôi ngó lại gần thì thấy máu loang trên ngực, chảy cả xuống cỏ và nhuộm hồng cả mảnh giấy cáo trạng của mặt trận Việt Minh về tội phản quốc của ông ta. Tôi sợ xanh cả mặt. Nhìn ngược, nhìn xuôi, con đường vẫn vắng lặng. Tôi chẳng hiểu sao, tới giờ mà vẫn chẳng có ai qua lại. Tôi liền ba chân bốn cẳng chạy về nhà, và cứ im thin thít như mèo bị cắt tai. Có lẽ tôi sợ bị liên lụy. Cho mãi tới khi ô tô nhà binh, nào Tây đồn, nào quận trưởng, nào lĩnh đồn, nào lính quận, cứ nhộn nhạo cả lên, tôi mới dám ló mặt ra.

Vài tháng sau, lại một vụ chết chóc nữa xảy ra. Lần này thì tôi đã quen rồi. Tôi thấy người ta đi, thì tôi cũng đi, khi xuống đến ngã tư gần đò Tranh, thì thấy người ta đứng nhốn nháo ở đó. Ngay trước cửa nhà hàng gầu và cót, ông Phú bị đam chết ở đấy. Ông ta nằm chết trong tư thế trần trùng trục, trên tấm thân mái mái đen chỉ có một chiếc quầ đùi. Ở phía bụng có một cục ruột tròn căng như quả bóng bàn, lòi ra. Trên ngực cũng có bản cáo trạng của mặt trận Việt Minh về tội chỉ điểm của ông ta. Đến chiều về nhà tôi thấy mọi người nói rằng: chẳng thấy anh ta làm gì, người hiền lành, chỉ đan gầu, đan cót đển bán…

Vài tháng sau nữa thì ở cánh đồng Hới, tên Trúng, đội trưởng đội Bảo Chính Đoàn, đóng ở Chợ Vé, nằm phơi xác trên vũng máu. Tên này chết vì tội phản động đã đành, nhưng hắn còn trẻ, mới ngoài hai mươi, đêm đi hẹn hò nên đã rơi vào bẫy của đội Việt Hùng. Tên này thì tôi biết quá rõ vì hắn thường đến gian hàng của chị tôi để tán tỉnh, ve vãn. Năm đó, chị tôi mới mưới sáu tuổi. Nếu tên Trúng không chết đi thì không những bao nơi bị đốt phá tan tàn, mà còn bao cô gái sẽ phải lao đao vì hắn.

Thời gian này, thị xã Ninh Giang không còn cái vẻ hoang tàn, gạch vữa và tường đổ lổng chổng của cái ngày “tiêu thổ kháng chiến”. Phố xá cũ đổ nát đã được bọn Pháp cho ủi bằng thành sân bay. Bây giờ mọc lên một đường phố chính, cửa hàng, cửa hiệu rực rỡ. Ban đêm, ánh điện huy hoàng. Nhưng cái rực rỡ, cái huy hoàng nằm dưới sự kiểm soát của những lô cốt đen ngòm, với những hàng rào dây thép gai xám xịt,… Thỉnh thoảng, súng đại bác nã vào một làng quê nào đó, tiếng nỏ và tiếng đạn pháo xé bầu trời thị xã, át đi tiếng đĩa hát đang phát ra một bản tăng-gô, hoặc một bản tình ca buồn bã nào đó. Đêm đêm, những đoàn xe quân sự ầm ĩ, chuyển động, tiếng máy nặng nề tràn ngập nỗi kinh hoàng.

Một cuộc sống mà cái tíu tít thì quả nhỏ, cái ầm thầm, thê thảm thì quá lớn. Nó luôn rình rập, chẳng ai biết tai nạn sẽ bất chợt đổ vào nhà ai! Và một lần nữa, tai nạn lại đổ vào gia đình tôi. Người ta đã bắt mẹ tôi ở ngoài chợ, để lại nỗi kinh hoàng cho các bà bạn hàng ngồi quanh đấy. Cả chợ xôn xao, khó có thể nói về cảm tưởng lúc đó, giữa phiên chợ, nó uể oải đi hay nó hối hả thêm? Nếu nói uể oải cũng đúng vì cái chuyện bắt bớ đó nó chỉ xảy ra ở một điểm trong chợ. Bọn lính đi giải mẹ tôi ra xe rồi chở đi. Nhưng tin này cứ như một mạch ngầm lan ra cả chợ. Người ta rời rã cả người, rồi chợ cứ vãn dần sớm hơn mọi ngày. Còn nói hối hả thêm cũng đúng vì chợ tan sớm nên ai cũng hối hả làm nốt cái phần việc của mình, đó là mua là bán, rồi mau mau mà kéo nhau về.

Chị tôi khóc ròng, rồi rọn hàng gành về. Lần này, chị tôi phải đi hai chuyến, cả gánh hàng tấm của mẹ và gánh hàng xém của mình. Nhưng rồi hàng tấm và hàng xén cũng không cánh mà ra đi, vì vài ngày sau hết gạo thì chị tôi vẫn phải ra chợ, bán được đồng nào, phần thì tiêu, phần thì người ta đến đòi nợ. Chẳng hiểu sao ngày thường, buôn bán phát đạt, chẳng thấy ai đòi, mà nay lại nhiều người đòi nợ đến vậy, họ đã lấy đi hết cả hai gánh hàng. Đến khi hết hàng rồi thì lại chẳng ai đến đòi nợ nữa. Bây giờ gánh hàng không còn, nhưng gánh nặng gia đình thì đổ lên vai chị tôi, người con gái mưới sáu tuổi, đang còn ngây thơ, khờ dại.

Lúc này gia đình tôi thật nheo nhóc. Hai cụ già, sáu chị em đều nhỏ dại. Riêng em Thúy thì mẹ tôi mới sinh được sáu tháng. Thúy khát sữa, khóc như xé vải. Bây giờ Thúy và cả gia đình tôi phải chịu ơn bà Ẩm vì bà đã cho Thúy bú mớm suốt trong những ngày ấy. Nhưng bà cũng còn con mình nữa. Bà chỉ bù được phần nào sự thiếu hụt của người mẹ đối với con. Tôi cứ cứ còm cõi dần, lúc nào mặt cũng héo như dưa. Tôi thương em quá, và tôi lại khóc ròng như ngày nào chạy loạn. Ngày ngày, tôi bế Thúy sang nhà bà Ẩm bú chực. Tôi là chân dỗ em chính vì các cụ già thì lậm cậm, các em tôi thì quá nhỏ, chị tôi là vai chính chạy ăn, chỉ có tôi là có thể như “con ếch tha con nghóe” mà thôi. Hai cô tôi thì cũng có gia đình nheo nhóc, rất khó khăn nên dù rất lo lắng cho các cụ già, cho chúng tôi, nhưng biết phải làm sao đây? Dì Nhạn tôi thì đi biệt tăm, trước dì còn hay về nhưng mà nay thì cứ như lặn đi ở phương trời nào ấy.

Một tuần, hai tuần, rồi hơn một tháng sau, chi em tôi mới biết dì tôi cũng bị bắt, trên đường dì đi Hải Phòng về. Hóa ra cũng tại thằng Được què. Hắn cứ tập tà tập tệnh ở ngoài chợ, như một thằng khỉ gió. Và thế là hắn đã biết tất cả. Nào là hàng hóa mẹ tôi chuyển đi, nào là phim ảnh, thuốc tây dì tôi chuyển về. Thằng Được què chỉ không biết chuyển về rồi tán vào đâu, và chuyển đi thì cũng chẳng biết đến nơi nào. Đến khi nhận được tiền của giặc rồi, một gia đình hai nhân mạng vào tù, bị tra tấn cực hình, tên Được què mới chợt nhớ lại cái chết của Nhường, Phú, Trúng. Thế là hắn trốn biệt. Nhưng hắn trốn sao được lưới trời. Và một lần nữa, Được què lại phải đến mạng và nhận lấy một bản cáo trạng trên ngực.

Đúng thời gian gia đình tôi dưới thị xã bị lâm nạn thì cha tôi không còn ở chiến khu Đào Lạng nữa. Cha tôi được cử đi học ở Thanh Hóa. Trên đường đi, cha tôi không những không nhận được tin nhà, mà chính những người ra đi cùng cha tôi năm ấy cũng lâm nạn và thất lạc mỗi người một nơi, do trận càn “Trái Tranh”.

Những ngày này, dưới bóng cây âm u trước cửa đền Phủ Bà, người ta thường thấy tôi bế em, đứng đỏ mắt ngóng mẹ. Người ta bảo mong như mong mẹ về chợ. Trong hoàn cảnh này, tôi mong mỏi trong một sự tuyệt vọng. Nhìn em Thúy của tôi lả đi trên tay, tôi cũng như muốn ngất đi cùng nó. Nhưng tôi phải cố, em tôi chỉ còn biết nương tựa vào tôi như còn cò bị bão dạt vào bờ tre, lá tơi tả, thấm dập gẫy trước phong ba. Chiều buống xuống, nỗi buồn khổ chùm lên anh em tôi, đôi mắt đã mỏi mòn của tôi vẫn ngóng về con đường mà người đời vẫn qua lại, ngược xuôi.

Một lần, tôi được bế Thúy vào thăm mẹ. Dạo này, người ta đã chuyển mẹ tôi từ đồn Tây về đồn công an Ninh Giang. Mẹ tôi vừa cho con bú vừa dặn rằng: “Chỉ thỉnh thoảng người ta mới cho vào thế này. Chiều đến, nếu em khát sữa thì bế em sang nhà bà Ẩm bú chực. Nếu bà ấy không có nhà thì bế em ra ngoài hàng rào kia kìa!”. Hai mẹ con tôi cùng nhìn ra ngoài hàng rào dây thép gai và cùng hiểu ý nhau. Cái hàng rào đó sát đường cái, nó không rào theo bề dầy và có mìn treo lủng lẳng như trong đồn Tây, mà nó rào mỏng, người không chui lọt, nhưng nó cũng đủ thưa để người ta có thể đưa được cho nhau những vật trao đổi. Thế là tôi đã bế em ra đó. Trong hàng rào những người tù đang làm “cỏ vê”. Mẹ tôi xanh xao, quần áo rách tũa, nhìn ngược nhìn xuôi, rồi ra đứng sát hàng rào, vạch vú cho con, hướng từ ngoài vào bú. Em tôi có vẻ không thích như vậy, nó muốn được ôm lấy mẹ, nó khóc cũng chẳng còn tiếng nữa và lả quá, đứa trẻ cũng đành chấp nhận bú qua dây thép gai. Những người tù cũng túm tụm vào chỗ đó, vừa làm cỏ, vừa kẻ đứng, người ngồi, che cho ba mẹ con tôi. Thế rồi những phút giấy hiếm hoi đó cũng chẳng còn tồn tại được nữa. Mẹ tôi bị giải ra căng Đoan Xá, còn dì Nhạn tôi thì bị tù ở căng Đề Lao. Hai căng này đều ở Hải Phòng.

Sau này, mỗi khi ôn lại những ngày tù đày, mẹ tôi thường nói với tôi rằng: “Tra tấn thế nào, cũng chỉ có một mực không biết, không làm. Chỉ biết có nuôi con, nuôi các mẹ già”. Còn bao nhiêu nỗi cực hình mà mẹ tôi kể lại, thì với tâm hồn non trẻ nên tôi chỉ biết tròn mắt, dỏng tai nghe, chứ tôi chẳng làm sao hình dung nổi cái kiếp sống tù đày ấy. Mẹ tôi bị cầm tù hơn một năm thì được thả về. Còn dì Nhạn tôi thì không được thả hẳn. Sau khi phóng thích, người ta quản thúc và sau thị bị cưỡng bức đi Miền Nam.

Cũng chính từ biến cố này mà gia đình tôi lại một lần nữa rời xa đất Hồng Châu này và chẳng còn bao giờ trở lại sống ở đó nữa. Những tưởng rằng, rời khỏi đất này, là rời khỏi bao nỗi bất hạnh. Thực ra tất cả nỗi bất hạnh ấy đã trở thành quá khứ. Chết chóc thì đã chết chóc rồi, tù đày thì cũng tù đày rồi. Còn cái nỗi ly tan thì vẫn nguyên đấy. Bố tôi vẫn vướng vào cái nợ nước non. Mẹ già, con dại đang gặp nạn, ông đã biết đâu, ông vẫn còn đang lăn lộn với kháng chiến. Còn mẹ tôi, ba chị em mỗi người một nơi, người em gái thứ hai của bà hàng ngày vẫn lẽo đẽo đi thăm hai người tù, vẫn động viên, an ủi chị mình và em mình, rằng âu cũng chỉ tại “mệnh trời”. Nhưng chính bà sau này đã phải xa người chị, xa người em, lọt lại đất Hải Phòng, lận đận kiếm sống.

>> Xem tiếp: 10. Mắc vòng oan nghiệt

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s