Hoa tàu bay: 6. Cảm nhận đầu tiên

HOA TÀU BAY

Tác giả: Phùng Viễn

6. CẢM NHẬN ĐẦU TIÊN

***

Sáng hôm ấy, khi bừng tỉnh, tôi đã nghe tiếng búa lò rèn bốp chát, bốp chát từ chiếc quán cạnh đường xóm Muối vọng lại qua cái ao lớn trước cửa nhà. Tôi nghĩ rằng mình sẽ thích thú lắm đây khi được xem người thợ cả và thợ phụ quai búa nhịp nhàng trên cục sắt đỏ lừ, lửa tóe ra như pháo hoa cải. Lò lửa thì hồng rực lên, còn hai ống bễ thì phì phà phì phò dưới cánh tay chú thợ phụ. Và biết đâu đấy mình lại chả nhặt được một cục xỉ hình thù kỳ dị, thích mắt. Nghĩ vậy nên tôi co cẳng chạy, thì bị mẹ tôi gọi giật trở lại. Mẹ tôi bảo hôm nay không được chạy lung tung. Tôi tưng hửng quay trở lại, và cũng nhận ra rằng: đúng là có chuyện nghiêm trọng thật rồi. Vì chảng thế thì giờ này tại sao mẹ chưa đi chợ, có bao giờ mẹ tôi nghỉ chợ đâu? Cha tôi về dặn dò mẹ tôi rằng tý nữa thì gọi ông bà và cho trẻ xuống hầm trú ẩn.

Khi cả nhà xuống hầm rồi, mẹ tôi cứ dục tôi vào nữa bên trong. Nhưng trẻ con thường hiếu kỳ nên tôi cố tình ở ngoài cùng xem có gì lạ xảy ra ở ngoài đó. Ngửa mặt lên nhìn cửa hầm phía trên đầu, tôi thấy chiếc cột vuông, xây ở góc sân đền, trên đỉnh cột trạm trổ hình ngọn đèn lòng cũng vuông, một cái đầu nghê đang nhăn nanh cười với trời xanh. Những đám mây trắng thanh thản lướt ngang ở trên đó. Trong kia, ông tôi lòa, ngồi yên mãi góc hầm tối om, còn bà và mẹ tôi thì nói chuyện chợ búa.

Thật không thể nào hiểu nỏi. Ẩn cái gì mới được cơ chứ, trong khi tôi vẫn nghe tiếng người nói í ới bên ngoài? Thời gian cứ chậm chạp trôi đi một cách vô vị. Lũ chim khuyên cứ ríu rít trong bụi cây quanh hầm. Trên cánh cao của cây xanh cổ thụ, vẫn vang lừng tiếng chim vàng anh hót. Cây phù dung vẫn đung đưa trước cửa hầm cứ như khoe với tôi rằng nó có hoa hai màu khác nhau, trắng và đỏ. Một cánh bướm vẫn chập chờn thoáng qua. Tôi tự hỏi: “chẳng có lẽ lại đi ẩn đóa phù dung hay ẩn cánh bướm kia…?”

Tầm buổi thì cha tôi gọi mọi người ra khỏi hầm, rồi lại vội vàng đi ngay, chẳng kịp giải thích gì. Cha tôi về lúc nào tôi cũng không biết vì cha tôi đi công tác ở đâu ấy, có ở thị xã đâu. Ra khỏi hầm rồi mà tôi vẫn chưa hiểu mình ẩn cái gì, trong thời gian ấy chuyện gì đã xảy ra. Ông tôi hỏi mẹ tôi: “Mày có thấy gì không?”. Mẹ tôi trả lời: “Con cũng chẳng thấy gì cả!”.

Mãi tối hôm ấy, cha tôi về, ông giải thích mọi chuyện, lúc đó thì tôi đã đi ngủ mất rồi. Còn chuyện gì thì ông tôi đã biết, mẹ tôi cũng đã biết khi chiều cả thị xã họ kháo nhau. Tất nhiên, cả thị xã, ai nghe chuyện đều lúc thì trầm trồ “thế à?”, “thế ư?”, lúc thì tư lự, nuối tiếc. Riêng bọn trẻ con thì chẳng hiểu gì cả. Chúng vẫn chạy nhảy, nô đùa, khóc nhè và vòi vĩnh,…

Ba ngày hôm sau, có đứa rủ tôi vào tòa Thánh chơi. Tòa Thánh là cái khu đất phủ đường, chung quanh có thành và hào bao bọc. Nó chỉ cách nhà tôi và khu đền có mấy chục mét, qua một cái ao rộng, nên chúng tôi phải đi vòng.

Vừa qua cổng thành, tôi đã thấy giữa bãi đất trống, có hai ngôi mộ. Cỏ ấp lên mộ vẫn còn xanh rì. Trên rốn mộ có vòng hoa rực rỡ, những cánh hoa chưa hề úa tàn. Băng trên vòng hoa mag dòng chữa. Hai cái biển gỗ ở đầu hai mộ cũng có tên người. Một mang tên: TRẦN VĂN GIÁ, và một mang tên: NGUYỄN VĂN TÀI. Có một cái gì rất quen thuộc ở quanh đây mà tôi chưa nhận ra. Chúng tôi lăng xăng, chạy quanh. Gần chỗ hai ngôi mộ có bệ để thử súng, gần bệ có một quàng cỏ bị cháy xém. Chúng tôi chẳng hiểu chuyện gì cả. Một đứa lớn hơn nói: “Đây là mộ hai anh bộ đội, chết vì thử súng ba-gô-ka, ngày hôm kia!”. “Thế tại sao thử súng mà lại chết?”. “Vì súng bị vỡ lòng!”. Chúng tôi tuy trầm trồ với nhau, đứa thì như có vẻ giải thích, đứa thì tròn mắt tỏ vẻ như: “ừhm, ly kỳ thật!”. Nhưng đối với tôi thì tôi vẫn chẳng thể nào hình dung nổi, súng như thế nào, đạn hình thù ra sao, lúc nổ thế nào mà lại vỡ nòng súng? À, chắc nó cũng lóe lên như ảnh lửa lò rèn mà mình đã từng quen thuộc ấy chứ gì? Thế thì thử súng đối với mình có gì lạ đâu!? Và thế rồi lửa táp vào người và thế là chết, thế là nằm lại nơi đây, dưới hai nấm mộ đầy hoa kia!? Ừ, thế thì quá quen thuộc, này nhé: ánh lửa này, chết này, mà chết thì khác gì ngủ cơ chứ! Đã có lần, mấy chú bộ đội về ngủ ở nhà mình, mình biết rồi. Các chú ấy mặc áo trấn thủ, đầu đội mũ có lưới da. À mà chết thì giống ngủ, nhưng có hơi khác một chút là ngủ mãi mãi mà không bao giờ dậy nữa!

Tôi tần ngần đi lại gần hai ngôi mộ. Ô, đúng rồi, lại một điều quen thuộc nữa mà giờ tôi mới nhận ra! Ngoài hai vòng hoa rực rỡ trên rốn mộ, dưới chân mộ vương vãi rất nhiều hoa phù dung trắng và đỏ. Có một cây phù dung nào đó quanh đây chứ gì? Nên nó mới rụng hoa xuống đây, lại còn những cánh bướm chập chờn nữa chứ? Chẳng khác gì cái hôm ấy, tôi ẩn những  đoa phù dung và ẩn những cánh bướm. Hai người chiến sĩ này nằm dưới mộ chắc cũng như người đi ẩn những đóa phù dung sớm nở tối tàn, và chẳng muốn làm kiếp bướm chập chờn trên những đóa hoa đời tươi thắm. Tôi hoàn toàn không biết đến rằng, nơi đây chẳng có cây phù dung nào cả, mà chính là vì thương tiếc hai chiến sĩ, nên đã có bàn tay ai lưu luyến rắc phù dung.

Tối hôm ấy, tôi về kể lại chuyện với ông tôi. Chẳng hiểu sao mọi người cứ trầm tư, chẳng nói gì với tôi cả. Tất nhiên là tôi cũng buồn rồi, nhưng chết thì có gì lạ đâu cơ chứ! Chỉ có sau đó vài tháng, thị xã bị giội bom, tôi mới thực sự hiểu rằng: cái chết thật khủng khiếp! Còn giờ đây, cái chết mà tôi không chứng kiến vào thời điểm đó, cũng không nhìn thấy thi thể của hai anh bộ đội, chỉ có hai ngôi mộ đầy hoa nằm đó, cũng chỉ như một giấc ngủ.

Cha tôi nói rằng đó là hai anh bộ đội, mà hai người này là cấp chỉ huy trung đoàn. Hai liệt sỹ đã vì dân, vì nước, hiến thân mình cho cuộc kháng chiến này.

Thế rồi ngày tháng cứ trôi đi, như dòng sông êm đềm trước cửa đền Đoan, nhích vào phía trong chút nữa, bức tường thành bỏ hoang lở lói, phủ đầy cỏ dại, nó đã chẳng còn chiều cao như khi mới đắp, nó bị mưa gió bào mòn. Hai ngôi mộ vẫn nằm đó. Người dưới mộ vẫn ngủ say trong giấc nồng ngàn năm. Hai vị đâu còn quan tâm gì nữa, rằng: mình đã có công trạng như thế nào. Lúc đầu, hoa rực rỡ, băng trên vòng hoa còn tươi nét mực. Nhưng rồi vòng nguyệt quế cũng héo dần, chỉ còn cô gái nào đó khóc thương, đem những đóa phù dung đến rắc quanh mộ ngày ngày.

Hiện tại, gia đình tôi đã gần năm mươi năm xa rời thị xã Ninh Giang, cứ như bông hoa tàn bay xốp nhẹ, mang trong nó hạt giống nhỏ nhoi, tung đi nơi khác. Làm sao tôi biết được, thị xã đã bao thăng trầm, đã bao nhiêu biến đổi, những bức tường thành bằng đất có còn không? Hai ngôi mộ ấy có được bốc hót, quy tập về nghĩa trang liệt sỹ hay không hay nó đã bị người đời quên mất? Hay bây giờ phố phường đã xây đè lên chúng? Đấy chỉ là ý nghĩ, biết đâu thân nhân của họ đã nhận được những tấm huân chương? Tôi nhớ rằng, hôm ấy, khi tôi về đến khu đền, nhìn sang khu thành hoang, cảnh vật thật đìu hiu, mây trên trời xám xịt lại, khu thành màu xanh xạm, chân trời thì mầu sáng. Từ cái quãng sáng ấy nó đem lại cho tôi một nỗi niềm xa vắng đến loãng cả người ra. Nhưng chính lúc ấy, trên cây xanh, tiếng chim vàng anh lại hót vang lừng, nó mang lại cho đời sự ríu rít. Cái tiếng chim vàng anh ấy, cho đến nay, tôi không còn được nghe lại, dáng vàng của nó như một mảnh của ông trăng, tôi không còn được thấy lại vì giống chim vàng anh đã bị tuyệt chủng, tôi chỉ còn láng máng thấy nó trong truyện cổ tích “Cô Tấm”.

Đêm hôm ấy, tôi mơ thấy mình lại rủ nhau với mấy thằng bạn vào khu thành bỏ hoang. Hai ngôi mộ liệt sỹ lại hiện ra trong mơ. Chúng tôi chạy quanh mộ mà chơi chi vi, có đứa nấp sau mộ, như thể làm vui cho những người anh hùng.

>> Xem tiếp: 7. Thị xã bị ném bom

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s