Hoa tàu bay: 4. Trên đống hoang tàn

HOA TÀU BAY

Tác giả: Phùng Viễn

4. TRÊN ĐỐNG HOANG TÀN

***

Những hạt rau tàu bay chỉ nhỏ bằng hạt vừng, nhẹ, khô; được những sợi tơ mảnh nâng lên và được gió thổi bay đi trong nắng. Chúng bay về từ những lùm cây um tùm, hoang dại ngoài bờ sông, hay xa hơn nữa là từ bãi Chu dịch về phía thượng nguồn. Chúng hạ xuống cư trú ở những chỗ trũng, ẩm thấp hoặc cả những chỗ cao hơn, nhưng có cái gì đó che chắn, không còn gió để chúng bay đi thêm nữa. Thế là chúng thi nhau mọc lên, tốt bời bời, để mà tô điểm thêm cho sự đổ nát, cái dáng vẻ sinh sôi trong hoang tàn. Cả thị xã Ninh Giang đã đổ gục, gạch vữa lổng chổng, không còn đường, chẳng còn phố, mà chỉ là bãi gạch vữa trùng trùng, điệp điệp. Nơi trước đây là những tòa nhà ba tầng đồ sộ, ban ngày mái che khuất cả bầu trời, ban đêm thì chan hòa trong ánh điện; nay cái khoảng không gian ấy trống hốc ra, nhường chỗ cho những trận gió mặc sức thổi về. Đôi chỗ, dưa dại cũng lan ra chằng chịt trên mặt gạch, nở những đoa hoa vàng chói. Chúng như sợ rằng không nhanh chân thì sẽ bị rau tàu bay chiếm chỗ.

Bên trong tòa thành, ngôi nhà Phủ Đường và lô cốt bị đánh sập, nhà thương, trường tiểu học cũng vụn nát. Chỉ có sân vận động thì vẫn còn, vì chẳng ai có thể làm biến dạng bãi đất trống ấy đi được. Nó vẫn là bãi đất trống bằng phẳng, phủ một thảm cỏ xanh rờn. Chí có điểm khác là quả nước lớn ở góc sân vận động, cao như thế mà cũng bị đánh đổ kềnh ra, nằm ênh hềnh trên mặt đất, chân quả nước bằng bê tông gãy từng khúc mà chẳng rời ra vì còn dính lõi sắt; một số đoạn, cỏ đã mọc chùm kín. Đền, chùa đều được phá đi đại sảnh, để lại hậu cung. Các tượng Thánh, tượng Phật được bày đặt dồn vào hậu cung để các ngài lánh mặt, phòng khi giặc chiếm đóng.

Thế là đất Hồng Châu này, kể từ ngày xửa ngày xưa, ngài Khúc Thừa Dụ dựng nghiệp ở đây, chẳng ai ngờ nó đã thăng trầm, biến đổi ra sao trong lịch sử. Ngày nay ông chủ tịch Trần Vĩnh (tên cha tôi, lúc đó ông lấy họ Trần của ông dượng tôi, ông Trần Văn Chiểu, người có gốc ở Thừa Thiên, sau này khi về lại quê Thanh Miện cha tôi mới lấy lại tên Phùng Vĩnh) đã phải cùng với nhân dân đánh sập đi theo tiếng gọi của kháng chiến, chấp hành chủ chương “tiêu thổ kháng chiến”, làm “vườn không nhà trống”.

Thị xã được phá đi rồi, người ta vẫn âm thầm chờ một biến cố sẽ đến, đó là sự chiếm đóng của giặc Pháp. Nhưng cái kế đánh nhanh, thắng nhanh đã không thành, mà người Pháp lại còn quá chậm trễ nữa là khác. Chạm đến nỗi thị xã lại phải hồi sinh một lần nữa trên đống đổ nát. Hàng ngày, cha tôi vẫn phải đi về để điều hành công việc. Một thời gian, người ta đã tản cư đi hết, Hoa kiều và những người giàu có thì chuyển đến các thành phố Hải Phòng, Hà Nội. Dân thị xã thì chạy về các vùng nông thôn. Nhưng rồi họ lại trở về thị xã đổ, mà dựng tạm những căn nhà tranh, tre, nứa, lá. Họ quây lại với nhau trong cảnh đìu hiu, mà buôn, mà bán, mà làm nghề nọ, nghề kia để kiếm sống. Thế là ông chủ tịch lâm thời Trần Vĩnh đã trở thành chủ tịch chính thức, lại phải cùng ủy ban hành chính trở lại nơi đay, trên cái đống hoang tàn này để cùng với nhân dân trong mọi công việc.

Khi chị em chúng tôi được cha mẹ tội đưa trở lại thị xã, đáng lẽ ra cả một vùng rộng lớn như vậy đã biến thành một bãi gạch mênh mông, những ao, hồ không còn chỗ bơi tắm mà phủ kín bèo tây, chúng tạo thành một rừng hoa tím, cảnh vật thật hiu quạnh, chúng tôi phải buồn đến nấu ruột mới phải. Rất tiếc vì còn nhỏ quá nên tôi chưa có được một tâm hồn trong “điêu tàn” như Chế Lan Viên. Không những chẳng buồn mà còn lấy làm thích thú nữa là đằng khác. Trước kia cái thị xã nhỏ mà đối với tôi nó là cả một thành phố lớn, nó gây cho tôi một sự thích thú, khi tôi ngắm những con tàu tu tu, với những ống khói lớn trên sông, khi tôi đi trên hè phố ngắm những gnôi nhà đồ sộ và những cửa hàng cửa hiệu nhộn nhịp, khi tôi đến trường chạy nhảy dưới những hàng me, hàng sấu. Còn giờ đây, đổ nát, hoang tàn lại gây cho tôi một sự thích thú hoàn toàn khác hẳn. Chúng tôi, những tên trẻ con nghịch ngợm, tha hồ mà ghè gạch, ném đá, chẳng còn ai la mắng. Suốt ngày chơi ngoài bãi gạch, chui vào những lỗ hỏm còn sót lại do những bức tường đổ tạo nên, để mà tròn mắt ra với nhau, mà tưởng tượng ra bao nhiêu điều kỳ diệu.

Nhà tôi được làm lại, không phải ở ngã tư đầu Phố Giữa nữa, mà chuyển vào sau đến Phủ Bà. Mọi người đã giúp sức với cha tôi, nhặt gạch ngoài bãi hoang, xây bằng bùn, lớp lá, hai gian buồng đều lộn thềm cho rộng. Vì không còn trụ sở công cộng nên cha tôi, dành một gian buồng làm nơi hội họp và làm việc. Tôi đặc biệt thích thú khi lẩn vào phòng làm việc của ông chủ tịch, những lúc vắng khách, hoặc giờ nghỉ. Vì ở đấy, sự trang hoàng rất uy nghi: sát vách hậu là bàn thời tổ quốc, nhưng nó rất đặc biệt mà chẳng ở đâu làm như vậy. Trên cao nhất là hai khẩu hiệu dán hơi chéo, một bên là hàng chữ “Đảng Lao Động Việt Nam muôn năm”, còn một bên là hàng chữ “Hồ Chủ tịch muôn năm”. Một tấm da hổ vằn phủ gần kín vách hậu, đầu hổ ghếch lên bàn làm phô ra những chiếc nanh của nó. Tấm da hổ này được giữ lại khi phá hủy tị xã, của một nhà quyền quý nào đó. Giữa tấm da đính cờ tổ quốc và ảnh Bác. Hai bên, một treo thanh kiếm, một treo khẩu súng. Sau này lớn lên, nghĩ về cái cách trang trí ấy tôi thấy nó cứ như cái điều báo trước rằng: “ông chủ tịch này, chẳng qua cũng chỉ vang bóng một thời mà thôi”.

Ngày ấy, trong hoang tàn đổ nát mà tôi cứ chạy nhảy và nghêu ngao hát cả ngày. Cha tôi đóng cho tôi một quyển sổ để chép bài hát. Tôi không còn giữa được nó, nhưng nó vẫn không phai mờ trong trí óc tôi. Nó chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay nhưng lại rất dày, bìa được bọc trong giấy bóng mờ, trong sổ cha tôi đã chép hộ những bài: Bắc Sơn, du kích ca, Đoàn vệ quốc quân, du kích Sông Thao và làng tôi.

Ngôi nhà của chúng tôi ở sau đền Phủ Bà, sau này đã chứng kiến những biến cố, đau buồn cho mỗi người trong gia đình, cho ông tôi, mẹ tôi, dì tôi và cho những đưa em của tôi. Nhưng là sau này, còn bây giờ nó là tổ ấm của chúng tôi, nó được dựng trên một mảnh vườn sau đền, trước một cái ao lớn, bờ ao có cây dừa. Lối đi từ đền vào qua nhà tôi rồi thông sang xóm Muối. Cả thị xã chỉ nơi đây là um tùm, xanh tươi nhất, vì nơi đây là cụm của rất nhiều cây cối, chim chóc cũng ríu rít tụ về. Nếu nhìn từ xa thì người ta cứ chỉ về cây xanh cổ thụ mà nói rằng: “đấy là thị xã Ninh Giang”. Ở giữa cái hẻm hai đền có một cây xanh cổ thụ, nó thuộc họ si, nhưng lá nhỏ hơn, chẳng viết nó mấy trăm tuổi, mà gốc nó đã thành hang hốc. Từ cảnh lớn, rễ thò xuống, bám vào đất, mà thân của rễ cũng phải đến hai người ôm. Tôi rất muốn trèo lên cây xanh này nhưngnó quá to, trẻ con như tôi sao mà dám trèo lên. Chỉ nhìn những cành lớn ngổ ngang trên cao đã đủ khiếp. Tán cây chùm kín cả hai sân đền và hai mái đền. Trải qua biến cố, phá hủy thị xã vừa qua, cây xanh vẫn sừng sững hiên ngang, vì nó là kỷ niệm, là biểu tượng và cả là lịch sử nữa, bấ chấp mọi bão tố phong ba. Bây giờ nhắc đến nó, tôi nhớ nó vô cùng, chúng tôi đã từng chơi chi vi, rồi chui vào gốc cây xanh, ẩn mình trong các hang hốc,…

Dân thị xã tụ về, nhưng họ phải tránh cái bãi gạch mênh mông kia, vì dố là sức lực của cả huyện, bao nhiêu tháng trời ròng rã mới đánh sập được, tưởng đổ, gạch, vữa đã chất đống lên. Cho nên mỗi hộ gia đình thì chẳng sức lực đau mà đâm xổ vào đấy được. Họ dựng nhà tranh dạt ra vành ngoài, vẫn phải theo trục lộ, chẳng hạn con lộ giữa nhà thương và sân vận động, trước kia không có nhà xây, trục lộ xóm Đồng, trục lộ từ chợ Vé đi Cống Sao. Cũng thành dãy đấy, nhưng bây giờ thì không có tên phố như trước kia, tất cả đều là phố kháng chiến vậy thôi. Người ta dựng trường học ngoài bãi Chu, cũng bằng tranh tre. Còn chợ thì không thể họp ở chỗ cũ được nữa, người ta nhóm họp ở một bãi đất nằm gọn vào cái góc vuông giữa đê Công Sao và đường Quán Câu đi chợ Vé. Hàng ngày tôi đi học ở bãi Chu thì phải qua Cống Sao, do đó cứ sáng ra thì tôi dắt ông tôi đến chợ. Ông trải một manh chiếu nhỏ ra quán, đặt cái cháp trên chiếu, rồi ngồi đấy chờ khách đến đặt quẻ nhờ bấm số tử vi. Gian quán bên thì bà tôi bán bánh khúc. Chợ họp thì phải đủ hàng tấm, hàng sén, hàng thịt, hàng gà, hàng cá, hàng rau, lò rèn, quán phở. Và trong cái hỗn độn ấy, sự nhộn nhịp vẫn chứa đựng nỗi hoang tàn còn vương lại trên những khuôn mặt phờ phạc, tóc tai bơ phờ của những người dân mất nhà cửa, lận đận khó khăn. Bà tôi quá trưa đã gồng gánh về để còn làm hàng ngày hôm sau. Còn tôi thì chiều tà mới đi đón ông. Chợ đã hết người, quán chợ xiêu vẹo, trống vắng, hắt hiu trong nắng chiều. Một mình ông tôi còn ngồi lại chợ trong nỗi cô đơn, ông không thể tự về được, còn phải đợi tôi đến dắt. Một cảm giác mà tôi chẳng thể nào quên được, đó là sự mừng vui của cả hai ông cháu khi nhìn thấy nhau. Tôi vào chợ nhìn thấy ông ngồi một mình vẻ mong chờ. Ông “nhìn” thấy tôi khi tôi rảo chân bước tới. Tôi chẳng nghĩ rằng ông lòa vì tôi chưa lên tiếng, thì đã thấy ông quay lại phía tôi, đôi tròng mắt vô cảm cũng như sáng lên vì cháu đã đến. Hai ông cháu dắt nhau đi trong những buổi chiều nắng nhạt, giữa hai dãy nhà dựng tạm, xác xơ điều tàn, để về với lùm cây xanh cuối thị xã, nơi ấy có một tổ ấm. Lúc đó tôi đâu có hiểu được nỗi lòng của ông, nhưng bây giờ thì tôi hiểu. Tình cảnh ông tôi, một người lòa, đã từng lận đận cả đời, không có con trai, còn tôi phải là cháu nội. Cho nên chính lúc đó, mọi thứ ở cái thị xã Ninh Gang thủa đó đã đổ nát, hoang tàn nhưng cái tổ ấm gia đình đã được xây dựng nên bao năm qua, nó thật vững trãi trong lòng ông, nó chẳng hề đổ nát hoang tàn. Còn tôi lúc đó dắt ông đi trong đìu hiu mà chẳng hề nghĩ rằng rồi đây, ông bà cháu phải chịu chia lìa do số phận. Chẳng thể nào trong cuộc sống, có thể tách ông cháu tôi ra được. Có lẽ mãi mãi ông cứ đặt bàn tay trên vai tôi, mà hai ông cháu đi vào dòng đời bất tận.

Tôi có ngờ đâu trên đống hoang tàn ngày ấy, chính là những ngày, tháng cuối cùng tôi được ở bên ông. Những ngày mà nắng lên, tôi thấy vui, chiều đổ lại không buồn. Bởi vì nắng lên làm những mái nhà tranh trên phố còn ướt át sương dêm, càng thêm huyền diệu. Chiều đổ, thì bóng tối sẽ chùm xuống, chẳng còn đâu là hoang tàn hay nguy nga tráng lệ. Chỉ biết tôi lại được nằm bên ông, mà lịm đầu trong những câu chuyển kể.

>> Đọc tiếp: 5. Ông trưởng ban Kinh tài

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s