Hoa tàu bay: 3. Phù sa

HOA TÀU BAY

Tác giả: Phùng Viễn

3. PHÙ SA

***

Vào một ngày, cái nắng cũng không đến nỗi gay gắt lắm, cha lai tôi trên chiếc xe đạp cũ, đi trên đê Đông Cao, con đê đã lâu đời không được đắp lại, hai bên mé đê tơ hồng mặc sức nhả ra bao nhiêu là sợi vàng ươm, quấn chằng chịt trên những khóm lá.  Đi giữa hai hàng tơ hồng mà lòng tôi đầy khoái cảm, một thứ vui thích của trẻ con. Chúng tôi qua đò Bùi rời đi về con đường Lục Tổng để về Biến Trại quê tôi.

Sau hơn một tháng con thuyền buồm đưa chúng tôi về Bến Trại, gia đình tôi về sống tại Đông Cao vì ở quê thì chẳng tiện cho việc công tác của cha tôi chút nào, mà mẹ tôi cũng chẳng chợ búa gì được. Gia đình tôi ở nhờ nhà bà Bạ Xiển. Thời gian này, mẹ tôi sang buôn bán bên chợ Bói. Cha tôi cũng hàng ngày sang Bói Giang làm việc nhưng phần lớn là về thị xã Ninh Giang để điều hành việc phá hủy, tiêu thổ kháng chiến.

Quê tôi vừa qua một vụ nước, khi về đến đầu đê, nhìn ra phía ngoài đê cái, thấy nước đã rút, còn để lại cơ man là phù sa đỏ ối. Những cánh ruộng bãi, phù sa đã phủ lì hết cả bờ của từng thửa. Ngoài sông, dòng nước đỏ ngần vẫn réo ào ào. Dòng nước mang nặng trong lòng nó lượng phù sa, mà cũng là mang nặng tình, nặng nghĩa và mang nặng cả mối hận thù. Dòng nước ấy chảy về từ Sông Hồng xa lắm, hàng năm phù sa bồi đắp cho châu thổ. Ngô, đỗ ven sông thì nặng tình với nó lắm vì nhờ có nó mà cánh đồng xanh tốt bời bời. Nhưng dòng nước đỏ phù sa ấy là mối hận thù của những vườn cây ăn quả, khi vườn hơi chũng. Những khóm chuối buồn ủ rũ, còn mang trên mình nó ngấn nước phù sa, những cây cam úa tàn khi mà nó chẳng thở được trong lòng nước. Dòng nước đỏ phù sa bồi đắp cho cánh bãi bên kia sông nhưng nó lại đào bới phía bên này cho lở rỗng ra. Chẳng hiểu nó thù hằn cánh bãi làng Mè những gì và từ đời nào?

Cha con tôi để xe lại nhà bác tôi ở trên đê (ở quê, tôi có nhiều ông, bà và nhiều bác lắm) rồi lò dò lội trên con đường ngập phù sa. Những rặng tre bên đường cũng lấm bẩn vì phù sa, chúng bám lại suốt từ cái ngấn nước rút trở xuống. Ở một góc ao có mấy cậu bé đang vùng vẫy, nô nghịch trong làn nước đỏ ngầu. Phía ngoài xa, những nơi nước chưa rút hẳn, người ta vẫn phải dùng mủng nan để đi lại.

Khi về đến nhà bác, cơm nước xong thì trời đã tối. Cha tôi vui chuyện, như chẳng muốn dứt, làm cho tôi buồn ngủ đến díp cả mắt. Thế là tôi lăn ra ngủ, ai bế đi đâu cũng chẳng biết. Khi tôi dụi mắt ngồi dậy thì đã là sáng hôm sau. Lúc đó mặt trời đã được một con sào. Cha dẫn tôi đi chơi nhà các bác, đến nhà nào tôi cũng thấy sự niềm nở, quý hóa, đậm đà tình quê. Khi đến mỗi nhà thì người lớn có chuyện của người lớn, trẻ con thì được chơi với trẻ con. Cha tôi thì được tiếp nước và chuyện trò thân tình trong nhà, còn tôi thì được các anh hoắc các chị dẫn ra sân, hay ra ngõ, lúc thì ăn ổi, lúc thì ăn bưởi. Chỉ có một điều mà cha tôi mắt thấy mà vẫn lờ đi như không biết vì đến đâu cha cũng thấy đồ đạc của nhà mình, rải rác ở mọi nhà. Riêng tôi, vì là trẻ con nên tôi chẳng biết gì về chuyện ấy. Tôi còn mải xem nào là đám thì hò hét đánh khăng, chỗ thì túm tụm đánh gụ, có anh còn rủ tôi đi bắn chim bằng súng cao su…

Cái thủa đó ở nhà quê, đâu đã như bây giờ, cái gì cha tôi mang về gửi thì nó cứ rõ ra, nó khác hẳng với mọi thứ ở đây. Một vài nhà cha tôi gửi những đồ đạc cồng kềnh, như giường, tủ, bàn ghế, âu là cũng chẳng bao giờ lấy lại. Vì nhà chẳng còn thì đồ đạc lấy lại làm chi. Mà bán thì ở đây ai mua, vì nó quá đắt, họ chỉ dùng phản gỗ sung với giường tre, chõng tre. Nhưng còn hòm đồ cha tôi gửi thì đồ đạc cũng được “chui ra” cả. Lúc đó tôi đâu có biết cái hòm đồ mà cha tôi gửi lại có những thứ gì. Dù sao tôi vẫn nhận biết được, mặc dù cha tôi chẳng nói nửa lời. Chỗ thì tôi thấy những chiếc đĩa bầu dục, chỗ thì tôi thấy lọ hoa kiểu Nhật để trên giường thời, chỗ thì thấy đồng hồ để bàn… Có nhà thì đến bữa ăn cơm thấy mang ra bát chậu con gà để đơm canh cua.

Có lẽ cha tôi cũng hiểu rằng khi chiếc hòm đã được mở nắp ra thì mọi thứ đã la liệt, thì âu nó cũng toàn là những đồ bỏ đi cả, ai đến cũng nhặt lấy một vài thứ. Hoặc họ có hỏi xin nhưng là xin cá người giữ hòm đồ ấy chứ cần chi phải đợi hỏi chủ thực sự của nó. Các bác tôi ở quê cũng toàn những người mộc mạc cả, cốt nó ở cái tình quý hóa nhau thôi. Người ta nói: “người là vàng, của là ngãi”, tuy nhiên dân ta lại chỉ hiểu “ngãi” tức là bỏ đi chứ chẳng chịu hiểu “ngãi” tức là “nghĩa”. Nhưng thôi kể chi những chuyện đó, dù sao thì gia đình tôi  cũng chạy về quê, rồi biết đâu sau này ra sao nữa. Cha tôi đã chôn rau cắt rốn ở đây, sau này sao lại chẳng thác đi ở đây, biết đâu đấy!

Trưa hôm đó, bác tôi tìm hai cha con về ăn cơm. Nước nôi xong, bác tôi nói rằng: “chú đã về thì nên xem lại hòm đồ”. Cha tôi nói: “em về thăm các bác thôi, cơm nước xong thì xin phép để đi kẻo lỡ việc”. Nhưng bác tôi không chịu, cứ nhất định đòi cha tôi phải vào xem, ông cầm tay cha tôi mà lôi vào chỗ kê hòm. Chiếc hòm lớn đã được kê, cao bằng một hòn gạch nằm, ấy thế mà phù sa vẫn bồi sát đáy hòm, mặt hòm cũng được một lớp phù sa bồi lên dày dễ đến một đốt tay, lớp phù sa trên mặt hòm đã quánh lại và nứt ngang, nứt dọc. Bác tôi nói: “đấy không suy suyển, chú mở ra xem!”. Cha tôi nói: “thế bác không cho chạy lên cao, mà để nước ngập thế này?”. “Ấy tôi cũng nhờ người khiêng, nhưng nó quá nặng, mà lại không dám mở để khuân đồ của chú ra, sợ nó suy suyển đi”. Cha tôi nói: “thôi em khỏi phải xem, nó đã như thế này thì thôi tất cả xin nhờ bác giải quyết cho em”. Bác tôi nói: “ấy không, chú phải mở ra, chứ sau này dồn cho tôi chịu là không được!”. Cha tôi hiểu điều đó, có lẽ bác cho rằng sau sẽ bắt đền. Nếu mà như vậy thì bác đã hiểu sai về cha tôi rồi.

Khi bật được chiếc khóa han rỉ ra, nắp hòm cũng phải dùng gậy để bảy thì mới mở được. Quả tình như bác tôi nói, nó không suy suyển vì trong hòm cũng là phù sa mà thôi, nhưng phù sa trong hòm nhão hơn và đầy đến lưng hòm, chưa hề có vết tay bới vào. Cha tôi xắn tay áo thọc tay vào … Cha tôi nói: “còn mấy chiếc khung ảnh, nhưng chắc ảnh hỏng hết rồi. Thôi hôm nào bác cho các cháu rửa sạch sẽ rồi dùng được thứ gì thì dùng”.

Hôm đó, khi hai cha con ra khỏi xóm Cửa Sông, nhìn ra ngoài sông, tôi thấy dòng nước vẫn mênh mang, đỏ phủ sa, trôi đi, mang theo ngọn gió mạt rợi. Phía đằng này con nước vẫn húc vào vụng miếu, làm cho ngôi Miếu Bà cứ nhô mãi ra. Đó là ngày ấy chứ bây giờ thì chẳng còn thấy tăm hơi Miếu Bà đâu nữa, mà chỉ thấy cánh bãi làng Địa Đỗ bên kia sông thò hẳn sang bên này. Cánh bãi ấy chứa trong nó một lượng phù sa khổng lồ, đến nỗi bao nhiêu năm này, nó cứ mướt xanh đến mát cả mắt.

Tôi chẳng ngời được rằng ngay từ thủa ấu thơ thôi biết dến phù sa, và cái mảnh đất phù sa màu mỡ của quê tôi đã gắn chặt cuộc đời tôi và gia đình tôi với nó. Tôi hạnh phúc và bất hạnh, gia đình tôi bình yên và hoạn nạn, mỗi một biến cố điều từ trên cái mảnh đất mang nặng phù sa này.

Sáng hôm đó tôi lại lon ton theo cha, tạm biết mảnh đất phù sa quê nhà.

>> Đọc tiếp: 4. Trên đống hoang tàn

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s