Hoa tàu bay: 11. Dòng sông vẫn trôi

HOA TÀU BAY

Tác giả: Phùng Viễn

11. DÒNG SÔNG VẪN TRÔI

***

 

Và dòng sông ấy vẫn trôi đi theo năm tháng. Mùa lũ, sông mang trong lòng nó dòng nước đỏ ngầu, đầy phù sa, ào ào giận dữ, như thể chứa chấp bao nhiêu niềm uất hận, dân trào. Nước cứ dềnh lên, dềnh lên mãi, đến nỗi ngập tràn hết cả ruộng đồng, làng xóm. Đâu đâu cũng toàn là nước. Xóm ven sông, cái xóm Cửa Sông này đã quá quen với những cơn giận dữ của dòng sông, tuy nhiên không tránh khỏi nỗi buồn hiu hắt, khi những căn nhà ngập nước, lũy tre xanh ủ rũ, uốn cong thân mình như thầm thì một điều gì đó với mặt nước đỏ kia. Những con xoáy vẫn gào thét như muốn nuốt vào cái họng của nó tất cả những gì là ngang trái ở đời. Lũ củi dều thì sợ sệt, tụ thành từng đám ở một nơi nước lưng nào đó. Nước rút dần mà cơn giận dữ đâu đã nguôi hẳn, bờ bên này, ngọn nước cứ húc vào, lôi ra từng mảng đất, lở ầm ầm xuống dòng nước. Cứ như thể theo dòng thời gian mà tàn phá đi tất cả.

Nhưng rồi mùa đông ken trở lại, dòng sông lại trong xanh, hiền hòa. Nó nhẫn nại, miệt mài đưa dòng nước mát chảy mãi về xuôi. Bên dòng sông ấy có một người mẹ cũng miệt mài, ngày tháng, chợ búa nuôi đàn con. Gánh hàng kĩu kịt trên đôi vai gầy, bà vẫn đi trên con đường bờ sông từ xóm bãi tới chợ Trại, đoạn đường chỉ hơn một cây số mà ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, bà vẫn qua lại nên nó đã trở thành con đường vô tận. Từ ngày về sống ở quê chồng, việc kiếm sống tưởng như vượt quá sức của bà. Nhưng dù sao thì bà cũng được cùng ông lo toan mọi việc trong nhà, không phải gánh vác một mình như cái nửa trước của cuộc đời.

Tuy nói cùng ông lo toan việc nhà, nhưng thực tình nào ông có giúp bà được việc gì đâu. Người ta đến nhờ ông tham gia dạy bình dân, thế là ngày ngày ông đi dạy bình dân. Người ta biết ông thạo nghề in, ông lại tham gia in tài liệu bằng bản in đất sét,… Ông cứ miệt mài làm những công việc ấy với một ý nghĩ rất giản đơn: “Kháng chiến chưa chấm dứt, kháng chiến không cần mình làm việc lớn hơn thì mình tham gia bằng những việc nhỏ”. Công việc làm ông vui nhưng chỉ khổ cho bà, từ ngày về đây, bà sinh thêm hai lần nữa, cả thảy tám người con. Thế là nhà đã lên đến mười một miệng ăn. Tất cả chỉ trông  vào đôi vài gầy của bà. Người con gái lớn đã đến tuổi mười tám thì lại vào du kích, ngày đêm đi chống càn, đi bao vây bốt Cầu Tràng, đi đào hầm bí mật, đi cứu chữa thương binh. Dòng sông ngày đêm vẫn trôi về xuôi, còn người dân xóm bãi thì mỗi gia đình đều chịu sức cuốn hút của dòng chảy cuộc đời, trong đó có gia đình của tôi.

Trăm nỗi lo trong lòng, chẳng biết có lúc nào mẹ tôi được thanh thản hay không? Thân gày với gánh hàng trên vai, ngày ngày đi trên con đường bờ sông, lúc ấy bà lo bước sao cho vững, đi sao cho nhanh để kịp buổi chợ. Thậm chí ở cánh bãi bên sông, có một con cò đang lủi thủi kiếm mồi, nước ngập ngang ống chân, cò ta vẫn kiên nhẫn lội đi trong cái vùng nước mênh mông, hoang vắng, xa xăm, bà cũng chẳng kịp so sánh xem đời cò kia có giống đời mình hay không? Đến chợ rồi, lúc bán lúc mua, bận bịu làm cho nỗi ưu tư trong lòng phần nào nguôi đi, nhưng rồi những lúc vắng khách, bà lại lo đến mẹ già ở nhà, trái nắng trở trời ra sao đây? Khi về chợ, nhìn đàn con ăn như tằm ăn rỗi với nồi cơm độn, chúng ngấu nghiến chỉ loáng một cái đã sạch không còn nồi cơm với rổ rau muốn luộc, mà những cuộng rau to đã chấm hết mấy bát tương.

Ấy thế mà cái nợ nước non hình như nó đã ngấm vào xương thịt rồi hay sao ấy. Một buổi chợ đông, bà bõng nhìn thấy anh cháu họ, anh ta là bộ đội, lúc ấy câu hát “mùa đông đan áo” từ năm nào tràn vào tâm hồn bà. Bà thương người chiến sĩ đêm trường giá lạnh. Bà gọi anh ta vào quán, lòng đầy thương cảm, cho anh mũ và khăn quàng bằng len. Năm sau bà đón được ba anh bộ đội về cùng ăn Tết với gia đình. Trong câu chuyện ấm cúng ngày Tết, bà được các anh kể lại rằng: chính con sông này đây, ngày đêm nó vẫn trong xanh hiền hòa, nhưng những đêm đông nó lại chẳng hiền hòa chút nào, đi công đồn, giệt giặc, các anh đã gặp phải biết bao khó khăn, ngâm mình trong làn nước giá lạnh để vượt sông. Còn dòng nước kia thì vẫn lạnh lùng trôi. Nó trôi đi mang theo những mảng bèo Nhật Bản đầy hoa tím mà một hôm nào đó lại vào sông cái. Nói trôi đi mang theo mọi nỗi ưu tư ở đời, mà một hôm nào đó còn người bỗng thả theo buông dòng.

Những phiên chợ Trại ngày đó rất đông vui. Người ta họp chợ sát mé bờ sông Luộc, nơi mà chính bốt Trại, đồn giặc những năm trước mới được nhổ đi.

Tôi đã học xong lớp ba, bây giờ lên lớp bốn, mà xã nhà lại chưa có lớp bốn, vì vậy tôi phải đi học xa. Lớp học kháng chiến phải học đêm. Tôi được cụ phó mộc già ở xóm trên đóng cho một chiếc bàn nhỏ theo kiểu bàn “kẹo kéo”. Kiểu bàn này rất thích hợp cho việc chọn địa điểm đặt lớp học, ở gốc đa hay sân đình đều được cả. Chỉ việc tập hợp như đơn vị bộ đội, giãn cự ly, chiến bàn “kẹo kéo” đặt ra, thế là có lớp học. Thày Cư treo chiếc bảng lên gốc cây, ngọn đèn bão đủ tỏa sáng trên mặt bảng. Những ngọn đèn cá nhân được thắp lên, đó là những chiếc hộp đựng bông tẩm dầu mà trước kia nó là những hộp đựng thuốc đánh răng. Buổi học được bắt đầu từ lúc trời ập tối, cho đến mười một giờ đêm thì tan học.

Một đêm hè oi nồng, mẹ tôi thao thức đợi tôi đi học về. Càng nghĩ bà càng thương con, khi đó tôi mới mười hai tuổi mà phải lặn lội đi học đêm trên tận xã Chi Lăng, cách nhà gần chục cây số. Đêm ấy, tôi về học muộn, có dễ đã đến quá mười hai giờ. Mấy đứa cùng đi ngại về xóm dưới vì phải lội qua ngòi nên chúng đã ngủ lại xóm trên. Tôi biết mẹ đang mong nên quyết về một mình. Tôi theo con đường bờ sông mà hàng ngày mẹ tôi vẫn đi chợ. Con ngòi cạn gần xóm nay nước lũ về nên đã ngập cao. Tôi nghĩ: “đành phải lội qua thôi…”. Tôi thấy trong người rờn rợn, một phần vì trời tối, một phần vì gió lạnh đêm khuya tạt trên mặt sông mênh mang, hiu hắt. Có mùi hôi thối thoảng tới. Tôi lội đến giữa ngòi thì mùi thối càng khẳn lên dữ dội hơn. Khi sắp bước lên bờ ngòi thì tôi đụng phải một xác chết. Tôi định thần nhìn kỹ… Cha mẹ ơi! Xác chết trương phềnh, bập bềnh khuất bên gờ đất. Tôi nảy quéo lên bờ, vừa chạy vời thở. Đang sau tôi cảm giác như có tiếng chân người thành thịch… Rồi tôi cũng về được đến nhà. Thấy con hoảng sợ chạy thất kinh vào căn nhà tranh lụp xụp, mẹ tôi vội ôm chặt tôi vào lòng, xiết chặt làm tôi nguôi dần cơn hoảng loạn… Mãi sau, tôi mới nói được ra tiếng: “… con đụng chết trôi”. Mẹ tôi nói: “Đúng rồi, xác Tây đấy mà, trong Triều Dương, ta đánh đắm những bẩy chiếc ca nô của địch cơ!”.

Sang hôm sau mẹ tôi lại đi chợ trên còn đường bờ sông quen thuộc, bà đã nhìn thấy trên dòng sông cuồn cuộn, không phải là nước chảy bèo trôi mà là nước chảy người trôi. Đó là xác Tây, chúng tụ lại thành bè, chỗ thì hai xác, chỗ dăm bảy xác. Cả bầu không gian thối lừng đến kinh khủng…

Sau chiến thướng ở Triều Dương ấy ít lâu thì dòng sông lại phải chứng kiến một chuyện đau buồn nữa. Hôm đó, tôi đi học về, trời mới tối một lúc. Có vẻ như tôi được tập trung lại nghe nói chuyện gì đó rồi về chứ chẳng học hành gì. Tôi buồn lắm và sau đó thì tôi đã khóc. Mẹ tôi văn hỏi mãi thì tôi mới kể cho bà nghe về cô giáo Thơm của chúng tôi, người xã Chi Lăng, đã chết trong trận càn “Con Cắt” vừa qua. Nhà trường làm lễ truy điệu rồi cho học trò về. Cô vừa mới được phong danh hiệu “chến sĩ thi đua của ngành giáo dục khu Tả Ngạn”. Cô giáo tôi chết đem theo luôn cả tuổi hai mươi ra đi. Năm đó, giặc Pháp mở chiến dịch “Con Cắt”, chúng đã dồn được một bộ phận dân chúng chạy dọc theo đê sông Cửu An. Trời tôi thì họ tụ lại trên bờ sông Luộc. Đêm hôm đó, họ vượt sông, bọn Pháp nham hiểm, đã trôi trên mặt nước mà không nổ máy. Khi phát hiện người vượt sông, chúng nã súng, làm chết một số người trong đó có cô Thơm. Dòng sông Luộc lại phải nhận thêm những nhân mạng nữa hòa vào làn nước trong leo lẻo mà u buồn. Giặc rút rồi, người ta gặp nhiều người đi tìm xác người thân. Nhưng nào có thấy đâu, xuôi xuống nữa phía hạ lưu thì đã là vùng địch tạm chiếm. Một số người còn ngồi lại, khóc than bên dòng sông, trước làn nước loang loáng dưới trời đêm, sao trời đêm ấy vẫn dày đặc nhấp nháy mãi trên cao, lũy tre xanh xa xa, về ban đêm cũng đen kịt lại như một dải băng tang.

Nhưng rồi nước dòng sông sẽ rửa đi những nỗi ê chề, buồn khổ. Dòng sông không chỉ chở nước về xuôi, rồi đổ ra biển cả mà nó còn chở đi cả thời gian, mang nó vào dĩ vãng. Một thời gian sau, bên dòng sông này, người ta thấy một người đàn ông, cần cù vuôn xới trên vạt ruộng, trồng ngô, trồng khoai. Các con ông cũng mỗi đứa một việc, đứa lớn việc lớn, đứa bé việc bé. Ông dồn hết sức lực của mình vào việc kiếm miếng ăn cho mẹ già và các con ông. Nhờ bám rễ vào phù sa nên ngô, đỗ đã xanh tươi bời bời. Chúng đã cho quả, cho hạt để khỏi phụ lòng người. Tất nhiên, người đàn ông vẫn không bỏ dạy bình dân, vẫn giúp bà con tính thuế cứu quốc, đó là những việc mà ông vẫn đam mê.

Bình minh lên, những mái nhà sau rặng tre bên sông chìm trong mầu hồng như chìm trong đám cháy đỏ rực. Mặt sông loang loáng một vệt sáng vàng vạch ngang, đúng từ chỗ mặt trời mọc. Cánh ruộng bãi mới được sới sáo, đất nâu nhuộm ánh bình minh càng thêm tười màu. Cha tôi hàng ngày vẫn vuôn sới bên sông như mỗi ngày một tọp đi thêm, vóc dáng ông càng mảnh mai hơn. Những ngày làm việc từ lúc bình minh cho đến chiều tà, nắng gió càng làm nước da trên mặt ông nâu xạm lại. Ông vác cuốc ra về khi trời gần tôi. Sau rặng tre là nơi có mái tranh mà ông vẫn qua lại hàng ngày, nay ông bỗng nhìn thấy mọc lên bao nhiều là măng và ông hiểu ra rằng tren đã già. Trời còn rét, đã sang xuân đâu?

Mỗi buổi sáng, cha tôi lại thấy mẹ tôi đi chợ từ rất sớm. Bà vẫn đi trên còn đường bờ sông. Sương mù còn phủ trắng trên mặt nước. Mặt trời chưa thức dậy để xua tan những gì là mờ mịt trong không gian, khiến cho bóng bà cứ mờ mờ ảo ảo. Bà lọm khọm bước đi, dáng gầy và nhỏ bé. Trên mặt sông, lũ vờ vô tình vẫn bay tíu tít như những con chuần chuồn nước. Chúng đã lột ra khỏi xác, để lại từng bối xác nhẹ như những nắm bông lờ lững trôi theo dòng.

Chiều hôm ấy, tan chợ, mẹ tôi về tới cánh bãi ven sông, thấy cha tôi vẫn đang sới sáo. Bà dục ông về nghỉ tay. Hai ông bà còn lán lại tần ngần nhìn dòng sông Luộc vẫn miệt mài trôi về xuôi, nhìn vạt ruộng đã xanh tốt nhưng cũng chẳng hứa hẹn được gì lớn lắm. Cuộc sống thiếu thốn vẫn cứ hoài thiếu thốn. Hai con người ở cái tuổi đã xế chiều, vẫn đứng trong bóng chiều chạng. Trên đầu họ, vài cánh chim đang rã rời, mệt mỏi, sải cánh về tít mãi phương trời xa.

Năm 1954 thì hòa bình lặp lại, nhưng đất nước lại bị chia cắt làm đôi. Hầu hết các gia định chịu cảnh chia li trước đây đã được đoàn tụ. Một số gia đình di cư vào Nam, tuy họ đã đi theo một ngả đường khác nhưng họ vẫn được sống chết bên nhau. Đại gia đình của bố mẹ tôi thì vẫn bị chia cắt theo số mệnh của đất nước. Tất cả là số phận và chiên tranh cả thôi, nó đã làm cho gia đình này trở thành đặc biệt. Ngoài Bắc thì bên nội, bên dượng và bên ngoại của gia đình tôi đều quy tụ vào một mái ấm gia đình, nơi mà cha mẹ tôi là người gánh tránh nhiệm. Một gia đình đùm bọc lẫn nhau, không có bất cứ sự phân biệt nào. Nhưng dì Nhạn (em út của mẹ tôi) bị một người đàn ông thân Pháp cưỡng bức vào Nam mang theo một người con mà bà có được với một người đàn ông “Cộng Sản nòi”. Trước đây, theo truyền thống gia đình, dì tôi yêu một người cộng sản tên là Sói, ông hoạt động ở nội thành Hải Phòng, sau đó bị thất lạc, không bao giờ tìm được nhau nữa. Ông Sói đã có thời gian hoạt động ở đội “Việt Hùng”, chuyên chấn áp bọn phản động. Ông đã để lại cho dì tôi một giọt máu, đứa con trai của ông bà sau này lại bị cưỡng ép thành lính của chính quyền miền Nam và chết trận bởi cuộc chiến tranh mà cha ruột mình vô tình trở thành kẻ thù, một sự chớ trêu của cuộc sống. Vậy là chuỗi đời về sau của dì Nhạn chỉ còn là những nỗi tàn tạ, cô đơn. Chẳng còn đâu những cái ngày nào dì còn là một co gái xinh tươi, tham gia kháng chiến, chuyển thuốc tây cho anh rể (cha tôi), khi qua đồn giặc thì nói tiếng “Tây” như gió, để qua mắt chúng. Mà cũng chỉ vì cha tôi mà dì bị tù đày và bị cưỡng bức vào Nam. Sau này, dì sống với người chồng xa lạ kia nhưng không có thêm con cái. Sau năm 1975, đất nước giải phóng, chú rể tôi phải đi cải tạo và tôi khi đó là bộ đội đi B, bảo lãnh cho về nhà.

Bên đằng nhà ông dượng tôi, bà Khuyên, con gái của cụ, cũng mất chồng trong vụ di cư miền Nam này. Bà cũng chỉ còn biết trông mong vào ông anh, cha tôi, để lương tựa.

Thế là hòa bình đã lập lại, nhà nhà đã yên vui, mà gia đình của cha mẹ tôi thì vẫn tan tác. Nhiều lần vuôn xới ở mảnh ruộng ven sông, nhìn dòng sông vẫn trôi xuôi, cha tôi hiểu rằng những biến cố này đã có dòng sông hiểu thấu.

Sáng hôm sau, cha tôi đi cất hàng sớm ở dưới thị xã Ninh Giang. Ông đạp xe trên đường đê quanh co, uốn khúc theo dòng sông Luộc. Đường từ Bến Trại tới thị xã Ninh Giang  dễ đến hai chục cây số. Nhưng ông thường phải xuống đó cất hàng vì chỉ có nơi ấy mới có mậu dịch quốc doanh. Ông vào cửa hàng, cố tỏ ra hòa nhã và tranh thủ mọi cảm tình của các cô nhân viên cửa hàng, còn các cô thì mặt lạnh như tiền. Sao cho các vị cửa quyền này xuất hàng, làm hóa đơn nhanh nhanh còn về. Họ có biết đâu, chính cái thị xã này ông đã từng làm chủ tịch. Chỉ biết rằng gánh hàng tấm bán lẻ ở chợ Trại đã hết hàng, mẹ tôi đang chờ cha tôi về. Mà cái chờ chủ yếu đối với cha mẹ tôi là ở bà tôi và lũ chúng tôi đang nheo nhóc. Cái cự nhất đối với ông bà là tuy buôn bán đấy mà gia đình vẫn đói, tuy hàng tấm đấy  mà lũ con vẫn rách rưới. Dạo đó, tôi đã phải bỏ học khi mà còn mười lăm ngày nữa là tôi thi tốt nghiệp lớp 7 phổ thông.

Một buổi sáng đẹp trời, chim chóc ríu rít trên những lùm cây, cha tôi hút vội điều thuốc lào, rồi bưới ra khỏi mái nhà tranh lụp xụp, ẩn mình trong khu vườn rậm rạp. Ông sửa soạn liềm, cuốc, đi làm ngoài mảnh ruộng ven sông, nhưng lại có khách. Đó là thày giáo Cộng, hiệu trưởng của trường phổ thông xã nhà. Thày giáo là người miền nam tập kết ra bắc, được phân bổ về đây để xây dựng nền giáo dục. Qua lời thầy Cộng, cha tôi được biết việc đó đang gặp khó khăn, nào là vận động nhân dân cho con cái tới trường đã khó, mà lại còn thiếu thốn đủ thứ. Nhà trường muốn mời cha tôi làm giáo viên danh dự với phụ cấp mối tháng mười lăm cân thóc. Ông nhận dạy học cho các cháu vào buổi chiều, còn buổi sáng ông tranh thủ việc nhà, đêm về thì dạy bình dân hoặc soạn bài, chấm bài. Nhưng rồi đến cuối tháng thì mười lăm cân thóc chẳng thấy đâu, vì lý do chưa thu được của dân. Tháng thứ hai, tháng thứ ba và cho mãi tới sáu tháng sau vẫn thế. Nhà trường đâm ra khó xử vì cha tôi xung phong ủng hộ số phụ cấp đó để làm giảm nhẹ sự khó khăn chung của xã. Cuối cùng nhà trường đành để ông nghỉ việc vì hai lý do. Thứ nhất là không đành cứ để ông không được nhận phụ cấp mãi. Thứ hai là vì cũng tạm đủ người, trên đã cử thêm giáo viên quốc lập về, họ có chuyên môn nghiệp vụ. Từ nay, trên khúc đê quanh co của sông Luộc, ông có thể yên tâm đi cất hàng cho bà mà không phải lo mau mải về kẻo lỡ giờ lên lớp. Cho dù vậy thì ông cũng vẫn thấy nhớ trường vì đã trót dành tình cảm cho nó.

Những tưởng rằng cái kế sinh nhai cứ thế diễn ra thì đời sống gia đình cũng chẳng đến nỗi nào. Nhưng dòng chảy cuộc đời cứ cuốn hút theo nó đi tất cả. Nó cũng chẳng khác nào dòng sông quê ông, cũng quanh co, uốn khúc, trong xanh như dải lụa và đỏ ngầu phù sa, cuồn cuộn chảy mà cuốn đi…

Sau khi hòa bình được lập lại, ở miền Bắc, người ta cải tạo tư bản tư doanh. Những doanh nghiệp lớn thì quốc hữu hóa. Những người buôn bán nhỏ thì phải chịu sự độc quyền của thương nghiệp nhà nước. Gánh hàng tấm của cha mẹ tôi có khoảng mười súc vải gồm vài dường bâu, vải phim và vải ka ki, sáng gánh ra chợ Trại, chiều gánh về, nó cứ nhẹ tênh tênh, không thể làm đối trọng cho sự nằng chình chịch của gia cảnh đông miệng ăn. Tất cả đã được quy định một cách chặt chẽ của thương nghiệp nhà nước với nền tài chính của nó. Này nhé, ông cất tấm vải nào từ quốc doanh theo giá bán buôn thì đã có hóa đơn. Giá bán lẻ đã được quy định sẵn. Mặt hàng lại rất đơn điệu nên người mua đều biết giá cả rồi. Phòng thuế ở ngay sát chợ, họ phát hóa đơn bán lẻ cho tư thương theo đăng ký kinh doanh. Thói quen đã có sẵn khi người mua hàng nhận hàng kèm hóa đơn. Hơn nữa, bà con nông dân muốn biết chắc mình mua có đúng giá hay không thì không gì tốt bằng họ mua kèm hóa đơn. Thuế suất đã có sẵn, chẳng chệu đi đâu được đồng nào. Mặt khác, theo tinh thần của cải tạo tư nhân, nên thuế suất pahri cao. Đến nước này thì cha mẹ tôi chỉ còn biết lo quắt cả người vì những miệng ăn của gia đình, vì những manh áo cho mọi người. Rồi lại còn chuyện chi tiêu, học hành của con cái nữa.

Rồi đến một ngày, cha mẹ tôi tháy người ta chở cát, gạch, vôi về để ngổn ngang giữa chợ Trại. Họ bắt đầu xây dựng theo thế gọng bừa, những nhà kho, gian bán hàng, bao lấy chợ, những dãy quán xiêu vẹo, cột tre khẳng khiu, trông thật thảm hại, lọt thỏm vào giữa. Ba dãy cửa hàng bề thế đã được hình thành. Phía bờ sông là dãy nhà kho lẫn cửa hàng để thu mua nông sản. Đối diện là bách hóa của huyện. Nối từ ngoài vào là cửa hàng dược. Chẳng bao lâu, trong bách hóa quầy dọc, quầy ngang, hàng đầy chồi chội, thôi thì muôn tía, nghìn hồng, đủ các thứ. Đứng sau quầy là những cô mậu dịch viên nõn nà kênh kiệu, chẳng kém gì những cô ở mậu dịch Ninh Giang, nơi mà cha tôi thường xuống đó cất hàng. Vậy là chẳng ai vạ gì ra ngoài quán kia- những gánh hàng tấm hay hàng xém của nhưng thương nhân như mẹ tôi- để mua. Hình thức kinh doanh tư nhân như thế tự nhiên biến mất, nhường chỗ cho các bà hàng bán bánh tu hú, giầu vỏ,…

Cha mẹ tôi đành đoạn tuyệt với buôn bán. Về làm ruộng thì mẹ tôi gặp phải trở ngại rất lớn, đó là sức lao động vì tuổi đã cao, vả lại bà cũng chưa bao giờ làm ruộng. Cha tôi khả dĩ cầm được cái vồ, cái cuốc nhưng cũng chẳng bằng ai. Còn chúng tôi đa phần là nhỏ dại. Nhưng biết làm sao, tất cả gia đình tôi phải bươn ra, trải ra. Không phải hùng hục như trâu lăn, mà những con người dãi khoai kia cứ phải mướt ra, nhoài ra với ruộng, với đồng. Kể ra cuộc đời đưa đẩy cũng đến hay! Một ông trưởng ban kinh tài của tỉnh mà kinh tài lúc ấy cũng chỉ là buôn bán, trở thành một tư thương, mà cái tư thương kiểu của ông bà thì có lớn nao gì. Nó cũng không hơn, không kém những người buôn thúng bán mẹt. Thế rồi chính ông và gia đình đã bị cái thương nghiệp đó “bóp chết” hẳn. Dù sao, những ngày sau đó (sau cái cải tạo tư bản tư doanh) là đến cải tạo nông nghiệp với một loạt chính sách như: phục hồi nền nông nghiệp, giảm tô và cải cách ruộng đất… Gia đình tuy có nơm nớp lo âu nhưng lại được bình yên vô sự vì rằng cha mẹ tôi không ruộng, không vườn, cũng chẳng thể bóc lột tô tức và bóc lột nhân công. Khi người cày đã có ruộng, người ta vào tổ đổi công, nhưng không ai muốn đổi công với gia đình cha mẹ tôi vì ông bà không biết làm ruộng, có đứa con gái lớn thì đã đi lấy chồng, còn lại một lũ trẻ nhỏ dại. Tôi là đứa lớn nhất sau chị Đức, trông gầy gò, ômg yếu như dãi khoai, nên cũng chẳng làm được gì nhiều. Cuộc sống cứ thế tiếp nối. Gia đình tôi cũng cứ từng ngày, từng ngày lận đận…

Đến một ngày hè tháng năm, một cụ già nữa lại ra đi mãi mái. Đó là cụ bà Đỗ Thị Hồ, người đã sinh ra cha tôi, người già cuối cùng trong gia đình cha tôi về với tiên tổ. Tất nhiên, theo cái luạt của tạo hóa, rồi đây sẽ đến thế hệ tiếp theo phải về cát bụi. Con chim bay mãi phải mỏi cánh, con tim đập mãi cũng có lúc nhịp đập phải ngại ngùng. Chỉ có dòng sông vẫn trôi, nó trôi tự ngày đời, và vẫn sẽ còn chảy mãi…

>> Đọc tiếp.  Bà cụ người Cổ Am

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s