Hoa tàu bay: 10. Mắc vòng oan nghiệt

HOA TÀU BAY

Tác giả: Phùng Viễn

10. MẮC VÒNG OAN NGHIỆT

***

Có một điều lạ, cái ý nghĩa ấy không hiểu sao nó cứ bám riết trong đầu tôi. Chứ đối với cha tôi, hình như mặc cảm chẳng bao giờ tồn tại trong con người ông. Lúc nào người ta cũng thấy ông sống rất sảng khoái, như một sự tự nhiên vốn có của lẽ đời. Ông vui vẻ chấp nhận những biến cố của lịch sử, những biến cố với gia đình. Ông khôg hề phải tỏ ra cố gắng để khắc phục, những khó khăn, hoạn nạn mà ông khắc phục nó như một lẽ thường tình. Còn niềm vui, nỗi buồn, một đời người ai mà chẳng có. Chỉ có điều, người ta chỉ thấy ông vui, lúc nào cũng nghiê túc trước cuộc sống pha đôi chút hóm hỉnh. Còn nỗi buồn hình như nó ẩn sau tính cách hóm hình đó.

Vào năm 1950 hay 1951 gì đó, năm xảy ra trận càn Trái Tranh ấy, chẳng ai biết rằng có một người đàn ông thoát ra khỏi vòng vây của trận càn, nhưng đồng thời cũng mất liên lạc với  tổ chức kháng chiến. Sau bao ngày nằm ẩn ở một gò đống nào đó, ngâm mình dưới ao bèo, lết mình ngoài đồng lúa. Đêm đến thì lần mò trong sự mất phương hướng, đói khát, khổ cực cũng chẳng làm người đàn ông ấy nhụt trí, ông luôn nghĩ “mình phải thoát vòng vây, phải về với tổ chức kháng chiến”. Nhưng cái trần đồ bát quái của lòng người thì ông đã chẳng thoát ra được. Nó ngọt ngào đem đến cho bản thân ông và gia đình ông nỗi bất hạnh, mà cho đến bây giờ người con trai cả của ông cũng chỉ cảm thấy lơ mơ rằng đó là bất hạnh mà thôi.

Vào một buổi chiều, tại một làng ven sông thuộc địa phận Thái Bình, người đàn ông vượt vòng vây của địch đã về tới đây. Theo “đường dây” cũ, ông tìm về nhà ông Côn. Người nhà chịu chứa chấp ông nhưng còn từ đây bắt mỗi tiếp thì không được nữa vì đến đây là hết đất Thái Bình, còn bên kia sông là đất Hải Dương rồi, chẳng còn biết mình sẽ về đâu. Ông lảng vảng ra bờ sông nhìn về bên đất Hải Dương, nhưng chịu, không thể nhận ra làng bên kia sông là đâu? Ông hỏi cặn kẽ người dân thì mới biết đó chính là làng Mè, My Động. Một sự tình cờ đến mức kỳ diệu, làng Mè chính là quê nội của ông, nơi cha của ông đã sinh ra và lớn lên. Ông nghĩ mình cần phải vượt sông. Giữa lúc bơ vơ thế này, dù sao, quê nội cũng là chôn nương thân. Ông có ngờ đâu, cái chốn nương thân ấy đã giữ chận ông đến hết đời. Và chính nơi đây ông và gia đình ông đã mắc vòng bất hạnh mới, niềm bất hạnh ngoạt ngào!

Đêm hôm ấy, trời tối như hũ nút, cái rét đến tê buốt. Trong bóng đêm, người đàn ông quyết tâm vượt sông. Ông lặng lẽ dầm mình xuống dòn nước rét buốt, nhẹ nhàng giữ sức bơi ra giữa dòng nước. Phía bốt Trại, một nhát pháo sáng được bắn lên, treo lơ lửng trên bầu trời, tỏa ánh sáng khắp một vùng. Trời càng rét bao nhiêu, thì ánh đèn pháo kia càng lạnh lùng bấy nhiêu. Ông vẫn kiên nhẫn bơi, nhẹ nhàng. Một cảm giác chơi với chợt đến. Mặc! Ông vẫn bơi. Chiều qua ông đã ngắm kĩ dòng sông này, có vẻ như nó không rộng lắm và hiền hòa như một dải lụa. Nhưng giờ đây ông bỗng thấy chơi với giữa dòng mênh mang. Đèn pháo sáng đã tắt, bóng đêm như một ân huệ chùm xuống. Chẳng hiểu sao lúc này đay bóng đêm không hề reo rắc nỗi kinh hoàng. Ông vẫn bơi, mỗi sự chuyển dời tới gần bờ bên này như càng gần tới sự sống. Tuy rằng cái rét buốt đã làm ông gần như kiệt sức. Khi tới bờ, ông phải bò lên, mà không còn đứng vững được nữa. Lên trên bờ, ông nghe có tiếng người nhốn nháo, từ nơi phát tiến nhốn nháo đó, ánh đèn măng xông sáng chưng. Ông không thể nào hiểu nổi trong cái xóm vừa quen vừa lạ kia nội tình ra sao? Nhưng ông hiểu rất rõ, làng quê nội của ông đang là làng tề, nên trong đó có thể có địch. Chỉ lo bất chợt gặp chúng. Chứ còn khi đã được họ hàng cưu mang thì có ngại chi cái làng tề. Lúc bấy giờ ông không hề nghĩ rằng mình đang “chui vào làng tề”, một thuật ngữ mà dân kháng chiến thường dùng cho những người phản bội tổ quốc.

Sau đó, ông bò vào ngôi miếu nhỏ ở rìa xóm, trong miếu càng lạnh lẽo, chẳng một chút hơi ấm của hương nhang. Ông cứ nằm nép mình xuống nền miếu ẩm mốc mà nghe ngóng. Ba giờ đêm, có lẽ là vào giờ đó, ông mới lần mò vào cái nơi mà ánh đèn măng xông đã tắt, không còn tiếng nhốn nháo. Xóm láng đã chìm trong giấc ngủ…

“Ai đi vào đây đấy!?”. Có tiếng người đàn ông hốt hoảng từ trong nhà hỏi ra. Tiếng người trả lời khe khẽ: “Em đây mà!”. Một ngọn đèn tù mù ghé sát vào mặt người đàn ông lạ vượt sông. Người đến thì đã nhận ra ông Các, anh mình, từ khi chưa cất tiếng hỏi. Nhưng ông Các nhìn bộ mặt hốc hác, râu ria xồm xoàm, áo quần lôi thôi của người lạ mặt thì bàng hoàng cả người, bao nhiêu phán đoán lướt nhanh trong đầu, đây là tình huống gì? Đến khi nhận ra đôi mắt rực sáng, ông mới kêu lên nho nhỏ: “Trời!… Chú Vĩnh!”.

Thì ra sở dĩ đèn măng xông sáng tới khuya và người nhốn nháo là vì hôm đó là ngày giỗ cụ Lý Đoàn. Ông Các nói “may là chú còn ẩn ngoài đó, chứ mà vào ngay thì đã rơi vào tay bọn chúng. Hôm nay có cả bọn lính đồn vào ăn uống. Vì làng mình là làng tề mà, đành chịu như thế vậy thôi chú ạ!”.

Cha tôi được bác tôi bí mật dẫn sang nhà ông Muôi vào ngay đêm hôm ấy, để ẩn náu bên đó. Và cũng về tới đây ông mới biết thực trạng của gia đình mình dưới thị xã Ninh Giang. Đến đây thì việc tìm bắt liên lạc với tổ chức kháng chiến đành để lại sau, mà việc cứu lấy gia đình đã trở thành quá cấp bách. “Thôi chú đã về đến đây thì…, ở nhà quê anh em chúng tôi như chút được gánh nặng. Bây giờ cần phải đưa hai bà và các cháu về đây thôi!”. “Vâng! Được vậy thì em mừng, mong các bác giúp em!”.

Việc đưa hai cụ già và trẻ nhỏ về quê được tiến hành ba lần. Không thể một lúc dắt dúm tất cả ra bến ca nô thị xã Ninh Giang rồi về Bến Trại được. Một buổi chiều, ca nô Hải Phòng về muộn. Tôi bế em xuống ca nô về quê. Tôi được người nhà dắt đi. Em Thúy trên tay tôi thì vẫn cứ khóc chẳng ra tiếng, cứ yếu ớt như tiếng mèo con. Sau đó em tôi hoặc là chịu nín, hoặc là khóc nữa thì cũng chẳng còn hơi sức. Em tôi với đôi mắt u buồn, nhìn mọi người không một niềm cảm  nhận, rồi hai hàng mi cứ cụp dần xuống môt cách đau thương. Thúy đã ngủ, như chiếc giẻ vất trên vai nó. Một thằng bé còm nhom như tôi, nhưng em tôi quá ốm gầy, nên tôi cũng chẳng thấy nặng trên vai mà chỉ thấy nặng trong tâm hồn thơ trẻ. Nhìn qua ô cửa ca nô, nước xét qua mũi thành bọt trắng, cứ ào ào lướt qua dưới mạn như một nỗi vô tình. Ca no đứng, hay đi, tôi và em tôi được dẫn qua bao bến bờ xa lạ, hay chĩnh những hàng cây ven bờ kia đang lùi xa vào dĩ vãng, tôi cũng phó mặc, tôi chẳng buồn được nữa vì nỗi buồn đã thành thường xuyên từ khi mẹ bị cầm tù. Tôi cũng chẳng thấy vui, vì lần rời đi này biết đến một tương lai gì?

Khi về đến nhà quê thì sau chị em tôi đã được gặp cha. Hai bà của tôi vài ngày sau đó cũng về cả. Một cảnh nheo nhóc mới lại hình thành, đó là cảnh “gà trống nuôi con”. Hai bà thì quá già. Rồi lại một cảnh tang tóc nữa đến với gia đình tôi. Bà cụ già đã sức tàn lực kiệt, cụ đã từ trần. Chị em tôi khóc lóc thảm thiết, tôi thương nhớ bà quá, sáu chị em tôi đều lớn lên dưới sự chăm sóc của bà…

Bà tôi mất rồi, một mình cha tôi phải cáng một gia đình sáu đứa nhỏ, và một cụ già, mẹ ruột của cha tôi. Ở nhà quê mà không một ngôi nhà, không một mảnh vườn. Thậm chí cũng chẳng biết làm ruộng như thế nào, để dắt dúm nhau đi mà làm thuê làm mướn. Mặt khác, cha tôi vẫn phải lẩn trốn, nói gì đến việc làm ăn. Cảnh ngộ thật trớ trêu!

Một buổi sáng, ông lý Tuất tới nhà ông Muôi (nơi mà cha tôi đang ẩn lấp), không phải với cương vị là một lý trưởng làng tề, mà với cương vị là một người anh trong họ. Ông lý Tuất là gọi theo chức lý trưởng gần đây thôi, trước kia, người ta vẫn gọi là ông Vệ Tuất,  bởi vì ông đi lính sang Tây, ông biết nói tiếng bồi nên người ta cử ông ra làm lý trưởng để đỡ đáng cho dân. Hôm nay đến nhà ông Muôi, ông cứ nhìn ngược, nhìn xuôi. Vừa ống nước, ông vừa hỏi ông Muôi: “Chú Vĩnh đâu? Sao tôi không thấy chú ấy? gọi chú ấy ra đây tôi bảo!”. Ông Muôi nhột cả người, sững sờ một lúc, rồi trả lời: “Bác hỏi thế là thế nào? Bác làm như em chứa chấp chú ấy không bằng! Có cụ già và lũ trẻ, mẹ nó phải tù đày, lấy tình trong họ nên em đem về đây, thì cho mọi người ở nhờ bêm thím Duộc…!”. Ông Muôi chưa nói hết câu thì cha tôi đã ở trong buồn bước ra: “Em đây! Em muốn lánh nhưng bác đã biết, vậy bác muốn nói với em điều gì?”. Ông Tuất lừ mặt về phía ông Muôi: “Chú còn nói không chứa chấp nữa thôi…?”.

Ba người bàn soạn với nhau rất lâu. Và cuối cùng đi đến thống nhất: “từ nay chúng tôi gọi chú là ông Ninh. Chú không phải trốn tránh, sẽ kiếm cho chú một thẻ căn cước”. Sau đó, ông Tuất đòi rỡ bỏ hai vách ngăn giữa chuồng lợn và bếp, nơi mà cha tôi thường phải ở đó để lẩn trốn, nhưng khi ông Tuất đi rồi thì nơi ẩn náu bí mật đó vủa ông Ninh vẫn được giữ lại đề phòng bất chắc.

Một hôm, ông Tuấn đến, nói với ông Ninh: “Tôi được biết chú vẫn không ra khỏi nhà. Thôi chú cứ cẩn thận như vậy là được. Tôi đã kiếm được thẻ căn cước cho chú. Cũng chỉ là đề phòng, nếu có chuyện gì tôi sẽ đứng ra nhận chú là em, chú cứ yên tâm. Chú có chữ nghĩa, giúp tôi việc này?”. Nói rồi ông Tuất vứt cho ông Ninh quyển sổ đinh. Và chính cái quyển số đinh mà ông Tuấn vất vả thuyết phục ông Ninh giúp lại  làm ông Ninh mắc tiến “thái hóa”, rồi mai một cả sự nghiệp. Như thế là cha tôi, nguyên là ôgn chủ tịch thị xã Ninh Giang, nguyên là trưởng ban kinh tài, người đã toàn tâm toàn ý cho kháng chiến, người tự đốt nhà mình để tiêu thổ kháng chiến, người mà cha đã bị sức ép của giặc phải tìm đến cái chết, vợ, em vợ phải tù đày, người phải bỏ lũ con nheo nhóc đã mắc cái tiếng là “làm thư ký tề”. Cái tiếng này làm sao rồi cũng đến chi bộ Z3, rồi họ đình chỉ công tác của ông. Nói là đình chỉ thì nó nặng nề quá, vì quyết định thì cũng chẳng có, như thế thì chẳng hóa ra ông bị kỷ luật vì cái tội vợ bị cầm tù, con nheo nhóc hay sao? Thực ra là người ta bỏ lửng, không chấp nhận sự hy sinh của ông.

Quả vậy, sau khi được họ hàng cưu mang, cha tôi tiếp tục lần mò tìm về với tổ chức, và khi tìm được tổ chức thì đã quá ba tháng không sinh hoạt. Sau đó ông nhận được một bức thư, trong thư mà chi bộ Z3 viết về, nói rằng: “Chúng tôi được địa phương cho biết là đồng chí đã làm thư ký tề. Vậy đồng chí háy tiếp tục thử thách ở địa phương. Chúng tôi sẽ xem xét lại sau”. Cái tiếp tục thử thách ở địa phương ấy nó thật đơn giản vô cùng. Cha tôi hiểu rằng về với kháng chiến thì đã bị một kẻ nào đó cản đường, thế mà đối với địch thì ông vẫn phải trốn lủi… Một bi kịch mà ông không thể thoát ra được.

Gần một năm sau, khi mà chuyến ca nô khách cuối ngày ghé Bến Trại để cho khách lên, rồi rời bến để chạy tiếp vào Bến La, người ta thấy một thằng bé còm nhom, vai nó khoác một bị gạo, từ vài ba người lớn đi từ phía bến tàu đi lên, đó chính là tôi. Mặt trời đỏ quạnh đang lặn ở phía tây. Điểm sáng cuối cùng cũng lặn nốt. Trên con đê vòng về làng Mè, rào dây thép gai chắn ngang cũng xám xịt lại trong bóng chiều chạng vạng. Những quả mìn đen xì treo lủng lẳng. Ở trong bốt Trại có một tay lính dõng chạy ra, anh ta vừa chạy vừa la: “Đứng … lại!”. Chúng tôi đứng lại sát hàng rào thép gai. Người lính cúi xuống giữ tay lên quả mìn hỏi: “Mấy người có nhìn thấy dây tóc mờ mờ không?”. Chúng tôi trả lời “có”. Thực khi được người lính kia nhắc nhở thì mọi người mới cố dán mắt nhìn mớ thấy dây tóc chăng ngang, cách mặt đường khoảng bảy- tám mươi phân. Người lính nói: “Đấy, luồn qua, đừng chạm vào giây!”. Tôi dạo này đảm nhận công việc đi lại giữa thị xã Ninh Giang và Bến Trại để tiếp tế gạo, tiền về cho cả nhà đang mắc kẹt ở nhà quê. Mẹ tôi đã được tha tù, rất muốn về quê để gặp gia đình nhưng lại lo bị theo dõi. Hơn nữa nếu về quê bây giờ thì sẽ đói cả nhà. Vậy là khi được tha về, bạn hàng cũ ai cũng mừng, mỗi người giúp đỡ ít vốn, và thế là mẹ tôi lại có hàng, lại tần tảo nuôi cả nhà. Em Thúy vì ốm quá, bao tháng nay nó thiếu mẹ nên nó được đưa trở lại thị xã. Dù mắc tiếng tăm gì đi nữa thì cha tôi cũng vui vẻ chấp nhật, tuy rằng gia đình phải sẻ làm đôi để chờ ngày kháng chiến thành công. Nếu như chuyện sẻ đôi này như trước kia thì nó đã đi một nhẽ,  cha tôi đi kháng chiến, mẹ tôi gánh vác gia đình, đó là lẽ thường tình; đằng này vừa mắc tiếng thoái hóa, mà vẫn phải chia đôi, cha tôi mà lộ tung tích ra thì lập tức sẽ bị giặc Pháp bắt, ông vẫn phải lấy tên là Ninh. Nếu bị cha tôi bị bắt thì điều gì sẽ xảy ra, chắc rằng nỗi bất hạnh sẽ còn lên cao hơn, thậm chí đến đỉnh điểm của nó, thôi thì đành giữ ở tình trạng như thế này vậy.

Nhưng rồi cái tình trạng này cũng chẳng ổn. Ở dưới thị xã Ninh Giang, cứ trước ngày lễ kỷ niệm ba ngày thì mẹ tôi lại bị chính quyền giặc bắt tạm giam, như ngày 1-5, ngày 19-5, ngày 19-8 hay ngày 2-9,… Một khả năng khác đã được mẹ tôi tính đến, đó là chạy một cái “tít” để chuyển về một trong hai thành phố Hà Nội hoặc Hải Phòng, tuy nhiên việc này cha tôi không đồng ý… Nhưng rồi thì mẹ tôi vẫn quyết định chuyển đi Hải Phòng, người ta không còn thấy bà ngồi buôn bán ở thị xã. Mặc dù ở chợ ai cũng biết thông tin này nhưng trong câu chuyện của những tiểu thương gia này, lúc bấy giờ thì chẳng ai gặp bà ấy nữa, thành phố thì rộng lớn, làm sao gặp được.

Về sau thì bốt Trại cũng bị quân ta công đồn, xã Diên Hồng (lúc đó chưa tách ra xã Tiền Phong) đã trở thành vùng tự do lần thứ 2 kể từ năm 1945. Lúc đó cha tôi đã không còn phải dùng tên Ninh nữa, ông có tên họ mới Phùng Vĩnh, theo họ cha đẻ. Mẹ tôi cũng về quê đoàn tụ cùng gia đình, bà có buôn bán ở chợ Trại thì ở Ninh Giang cũng không ai hay biết nữa. Từ đây, gia đình tôi đã đoạn tuyệt hẳn với thị xã Ninh Giang, cả nhà được đoàn tụ ở chính quê nội của tôi. Mẹ tôi vẫn đầu chợ nọ, cuối chợ kia, việc này không thể bỏ được, vì rời nó ra thì đói ngay, những đôi tay gầy gò, những vóc dáng mảnh mai của những người từ thành phố về kia, làm sao mà cuốc xới vững vàng ngay được. Cha tôi chịu nỗi oan trái với cách mạnh, nhưng được làm một người dân bình thường thì có làm sao. Chẳng qua cũng chỉ tại cái lẽ thường tình của lòng người mà thôi. Ông không muốn cho con cái biết kẻ đã hại mình, ông đã xác định dù sao đây cũng là quê hương, con cái ông sẽ lớn lên ở đây, chúng sẽ thở nàn không khí trong lành sau lũy tre bao đời tổ tiên đã gắn bó. Nhưng tôi, người con trai cả của ông, thì lại cứ một mực muốn biết ai là người đã cung cấp một cái tin méo mó như thế. Và sự tự ái của tôi đã thúc đẩy tôi tìm hiểu rõ sự việc, chính là người bí thư của xã Diên Hồng thời đó. Nhưng biết thế thôi vì tất cả đã thành chuyện đã rồi. Bây giờ đã là vùng tự do, cũng chẳng có lý trưởng tề, thì đào đâu ra “thư ký tề” nữa. Đối với tôi thì nó chỉ còn là nối cánh cánh bên lòng.

Bốn mươi nhăm năm sau, tôi đã ngoài năm mươi tuổi, vào một ngày xuân mưa gió, tôi đến nhà ông Hoàng Thành Ngọ chơi, ông cũng là người làng Mè, cùng lớp người với cha tôi, nhưng sau đến thời chống Mỹ thì ông Ngọ lại cùng đoàn công tác C với tôi. Nay ông đã về hưu và sống ở tp Hồ Chí Minh, nay về quê chơi. Ông Ngọ lúc nào cũng có cái dáng cười hể hả, mắt thì hơi nheo lại một cách dễ mến. Tôi đến đúng lúc ông Ngọ đang xem lại vô số những huân, huy chương. Rồi vui chuyện, ông nhắc đến cái thời mà gia đình tôi từ thị xã Ninh Giang chạy giặc về đây, lúc tôi vẫn còn nhỏ: “Lúc ấy tớ thôi công tác ở xã rồi, tớ chuyển vào bộ đội, công tác bí thư lúc đó do ông Nguyễn Trí Phú”. Thì ra dưới con mắt của ông Ngọ hay nói rộng ra là mỗi người dân ở quê, chẳng ai hiểu gì về gia đình của cha tôi, nay cha tôi đã không còn ở trên đời này nữa, nhưng các con ông có thể yên tâm, than thản mà sống, gạt nỗi mặc cảm sang một bên. Dù sao thì nhân lúc vui chuyện, tôi đã hỏi ông ta: “Thế ra ông Ngọ thoát ly từ lúc thôn ta là làng tề à?”. “Ừ! Đúng rồi, lức đó cụ Vệ Tuất làm lý trưởng tề”. “Thế nhân đây ông cho tôi hỏi: lúc đó tề dõng phản động, nổi lên khắp nơi, ngay làng ta lý trưởng tề trước cụ Tuất cũng đã vài người bị giết vì tội phản động, thế tại sao cụ Tuất lại không bị cách mạng trị tội?”. Ông Ngọ khăng khăng: “Trị thế nào! Cụ Tuất là do Cách Mạng cử vào. Tất nhiên ông ấy không phải người trong tổ chức, ông ấy chỉ là một ông Vệ Tây. Thế nên bọn Pháp mới không nghi ngờ. Đáng lẽ bố trí ông Nga, nhưng ông ấy rát Tây lắm!”.

Thế đấy! Một ông lý trưởng tề do ta bố trí, thế mà chỉ vì quyển sổ đinh mà cha tôi trở thành “thư ký tề”. Nhưng thôi, thư với lại thì cha tôi đã chẳng bao nhiêu lần rồi. Ông đã chẳng làm ở sở Ka-đát Thái Bình dưới thời Tây là gì! Ông đã chẳng làm ký lục hãng Phông-ten cho thương gia Phong đấy thôi! Làm “thư ký tề” thêm một lần nữa thì có hệ gì! Chỉ có một điều mà chúng tôi, các con của ông phải suy nghĩ thế nào về người cha của mình! Phải chẳng một người như ông lại không xác định được cái tất thắng của Cách Mạng. Một người đã từng bị người ta chĩa súng vào ngực, bọn Pháp và tay chân của chúng không muốn đội trời chung, thì tới đây ông lại tự bán rẻ danh dự của mình như vậy sao? Nói chung là ông đã mắc vào cái bẫy của lòng đố kỵ, một sự nhỏ nhen, ty tiện, một sự tự cao tự đại của một kẻ ngu si.

Và hai con người ấy vẫn song song tồn tại theo hai cách khác nhau. Người bị mắc bẫy, bị oan trái vẫn sống yêu đời, khi mất đi thì còn tồn tại với đất với trời, lòng gửi vào hoa lá cỏ cây, còn một người vẫn sống với lòng ti tiện, ích kỷ, hẹp hòi, già lắm rồi mà sự hẹp hòi vẫn còn phì phà phì phèo trong ngực. Nhịp thở ấy nó lay nhay chẳng muốn đứt đi cho.

Nói là “mắc vòng oan nghiệt” là đối với cách nhìn của tôi thôi. Còn đối với cha tôi thì chẳng coi là gì cả. Và tất nhiên ông cũng không thấy là mình mắc sai lầm gì. Ông vẫn vui vẻ sống với gia đình trong một làng quê, than thản đến lạ thường, như dòng sông Luộc uốn khúc quanh làng, nó mang phù sa về làm mát cho cả bên lở lẫn bên bồi.

>> Xem tiếp: 11. Dòng Sông vẫn trôi

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s