Hoa tàu bay: 1. Cánh buồm thoáng qua hẻm phố

HOA TÀU BAY

Tác giả: Phùng Viễn

1. CÁNH BUỒN THOÁNG QUA HẺM PHỐ

***

Người ta gọi phố tôi là Phố Giữa vì ngoài nó là Phố Bờ Sông, phía trong là chợ Thị Xã, sân vận động, nhà thương và trường tiểu học.

Nhà tôi ở ngày đầu ngã tư, dãy trong, nhìn ra phía bờ sông. Tuy là một căn nhà hai tầng nhưng đối với tôi, lúc đó mới là một cậu bé ở tuổi mẫu giáo, căn nhà đó là lớn, thực ra nó cũng chỉ là một căn nhà quá nhỏ và cũ kỹ, tầng trên lát gỗ, căn nhà đã chật hẹp, lại thêm cầu thang trong nhà nên càng chật. Chiếc ban công gỗ trên tầng hai, chắc nó cũng chỉ thô kệch, dậu ban công ở ngoài mưa nắng, tuy bằng gỗ lim nhưng nó cũng phải chịu long lổ bởi những lớp rêu phong vì bao ngày tháng thách đố với thời gian.

Hàng ngày bà tôi dắt tôi lên gác, đứng chơi ở chiếc ban công đó. Tôi được xem mây bay trên trời, xem xe chạy dưới đất và xem những cánh buồm thoáng qua hẻm phố. Lúc đó qua con mắt non nớt, tôi có biết đâu rằng cuộc sống tuổi ấu thơ ở một dãy phố nghèo với tất cả mọi nỗi hí hửng của một cậu bé, nó cũng chỉ thoáng qua như cánh buồm thoáng qua hẻm phố mà thôi.

Một buổi tối, cha tôi dắt tôi đi trên vỉa hè, dưới ánh sáng đỏ quạnh những của những ngọn đèn đường. Dãy phố trông thật ảm đạm vì những bức tường loang lổ màu rêu và những ô cửa gỗ xám xịt. Ấy thế mà sao tôi cứ vui mừng khôn tả xiết, lon ton chạy theo cha tôi. Khi đến ngôi nhà lục lăng, người ta gọi đó là “phòng thông tin” thì tôi đã không khỏi ngỡ ngàng. “Phòng thông tin” xây dựng  giữa khoảng đất trống, nơi tụ điểm của đầu các dãy phố, ở đây ánh điện sáng trưng. Nhìn dọc theo phố Cô Đầu, tôi tháy điểm mút của nó là ngôi Điền Tranh, cổng tam quan hiện ra trắng xóa. Vượt qua “phòng thông tin” thì sang Phố Khách, một dãy phố rất sang trọng, ánh điện rực rỡ, cửa hàng, cửa hiệu, cao lâu Nhân Hưng. Sau khi chào hỏi người quen, cha tôi mua cho tôi bánh xíu báo(1). Hai cha con ngồi vào một chiếc xa lông đôi, đệm rất êm. Trên bàn đặt đĩa bánh, mấy chiếc xíu báo vàng sậm, tỏa mùi thơm phức, làm tôi nhỏ cả nước miếng. Cha tôi không ăn, mà chỉ ngồi nhìn tôi ăn một cách ngon lành. Tôi vừa ăn vừa ngẫm nghĩ, sao cha tôi nhiều tiền và sang trọng thế nhỉ? Nhiều tiền thì mới mua bánh cao lâu cho mình ăn chứ. Tôi có biết đâu rằng cha tôi cũng chỉ là một công chức quèn, làm thuê cho ty rượu “Ký Phong”, mấy cái bánh cho con là cũng để một lần thằng bé được ăn miếng ngon, khi mà ở nhà nó chỉ được mấy củ ấu, miếng bánh đa nướng hay vài củ lạc luộc mỗi lúc mẹ đi chợ về. Còn sang trọng ư? Tôi có biết đâu rằng bộ com-lê cha tôi mặc khác xa lắm với những bộ com-lê của các vương tôn, công tử. Vì nó đã sờn gấu. Cha tôi chẳng hề bận tâm vì bộ áo quần đó, ngày nào cha tôi cũng khoác nó để đi làm.

Tôi đã lớn lên lúc nào, chẳng rõ. Bây giờ nghĩ lại nó cứ như sự bắt gặp cánh buồm đã thoảng qua hẻm phố phía ngoài sông mà thủa đó tôi đã nhìn thấy từ ban công. Tôi đã có thể sang nhà ông để dắt ông, mỗi khi ông cho gọi tôi. Nhà tôi ở cùng dãy với nhà ông, chỉ cách có nhà ông Bờ Béo. Ông Bờ Béo thì bán bánh dày, bánh giò. Bên nhà ông tôi thì bà tôi bán bánh khúc. Tôi còn có bà khác nữa, bà vẫn dắt tôi lên ban công là mẹ già của cha tôi. Mãi sau này tôi mới biết hàng ngày tôi phải sang dắt ông, là dượng của cha tôi. Tuy là dượng nhưng cả cái thị xã này chẳng ai biết cả, vậy thì trẻ con như tôi làm sao mà biết được. Ông tôi lòa, đi đâu cũng phải có người dắt. Ông tôi biết nhiều chữ Nho, xem được số tử vi. Ông tôi dắt mối dạy tôi phép “Hàn tín điểm binh” nhưng tôi lại quả nhỏ, mới đến trường học i tờ nên không tiếp thu được. Ông tôi vẫn bảo tôi là không được khoe tài, rồi kể cho tôi nghe chuyện Tôn hành giả nhảy qua bàn tay của Đức Phật Như Lai.

Một lần ông cho gọi cha tôi sang nhà mà dạy rằng “chớ có vào ‘hội kín’ (2), vì tao chỉ có mình mày là con trai để trông cậy”. Cha tôi chối không nhận là có vào “hội kín” và nói rằng “ông cứ yên tâm”. Nhưng đã có lần ông bắt tôi dắt vào mãi Xóm Đồng. Gọi là Xóm Đồng vì cái xóm này thuộc thị xã nhưng nó giáp vớ cánh đồng của làng Tranh Xuyên. Vào tới Xóm Đồng thì ông bảo dắt vào nhà bà Khoa (bà đẻ ra cô tôi). Cha tôi đánh tổ tôm ở trong đó, thấy ông vào thì cha tôi đã luổn ra sau nhà và trốn mất. Ông tôi hỏi tôi “có nhìn thấy cha mày không?” Tôi nói “có nhưng cha cháu sợ ông nên trốn mất rồi”. Cũng có lần ông tôi không khiến tôi dắt mà cầm gậy, dò dẫm vào một mình. Lần ấy cha tôi thấy không có con mắt của tôi để nhìn nên cha tôi vẫn ngồi đánh tổ tôm mà không nói năng gì, chỉ gật, lắc và làm hiệu tay. Ông tôi ngồi chán, không nghe tiếng cha tôi thì lại dò dẫm ra về. Sau này tôi mới biết cái hội tổ tôm ấy cũng chỉ là trá hình cho những cuộc họp “hội kín” mà thôi.

Những ngày đó tôi quá non nớt, đến nỗi chẳng còn cảm nhận được cái ảm đạm của bầu trời khi nó bị những đám mây đen bao phủ. Nạn đói tháng ba năm Ất Dậu ập đến, cũng chẳng gây cho tôi một nỗi kinh hoàng. Tôi chỉ còn nhớ cứ mỗi buổi chiều ông Gác (chẳng biết tên thật của ông là gì vì ông làm xe gác nên gọi là ông Gác) kéo một xe bò xác chết qua ngã tư nhà tôi, rồi quặt ra bờ sông mà tùng bê xuống dòng nước. Một lần tôi dắt ông vào Xóm Đồng, con đường dẫn vào Xóm Đồng phải qua cạnh nhà thương, góc nhà thương lại có một nhà xác, người chưa chết, còn ngắc ngoải, họ cũng tống cả vào đây. Thế là tôi nhìn thấy những thân hình chỉ còn da bọc xương, chết dắt tren song cửa sổ. Một lần tôi theo bà ra chợ, nhưng mới đến cổng chợ bà đã lôi tôi xềnh xệch trở về vì ở cổng chợ có một đứa trẻ gầy còm khát sữa, đang chòm chọp bú mẹ nó, khi cái thân gầy của mẹ nó đã tắt thở. Về tới nhà tôi thấy bà khóc, hai hàng nước mắt trào ra trên đôi gò má nhăn nheo, bà đã móm vì chẳng còn răng, nhưng trông miệng móm của bà khóc mới thảm hại làm sao! Thế mà đôi mắt tôi cứ dáo hoảnh, láo lên một cách ngạc nhiên đầy vẻ ngây thơ.

Những ngày ấy tôi còn muốn ra xem quân Nhật chào mặt trời vào những buổi sớm, nhưng người lớn đe nẹt, không cho ra, làm tôi cũng phải tròn mắt sợ hãi, mà chẳng dám ló ra khỏi nhà.

Đến tháng tám năm đó, một hôm tôi đang đứng trên ban công và cũng vừa thấy một con tuyền với cánh buồm của nó lướt qua cái hẻm phố nhìn ra ngoài sông. Bỗng ở phía cổng phủ có tiếng loa: “Cách Mạng Tháng Tám thành công muôn năm!”. Sự kiện này thú thật tôi chỉ còn nhớ mang máng trong ký ức mà thôi. Một chiếc xe ca, cờ đỏ sao vàng phấp phới. Chiếc cờ lớn thì cắm ở mũi xe, còn cờ nhỏ thì được những cánh tay thò ra khỏi thành xe mà phất, mà vẫy tới tấp. Người trên xe đông nghịt. Tôi nhận ra đây chính là chiếc xe ca chở khách của nhà Ký Phong. Bỗng cậu Táp ở trên xe, nhìn lên ban công, thấy tôi. Cậu gọi rối rít, tôi chạy xuống và được cậu cho lên xe đi cùng đoàn cổ động. Tôi thật thích thú khôn tả xiết.

Vài ngày sau tôi lại thấy ông gọi cha tôi sang mà nói rằng: “cái tướng của mày là chỉ khai sơn, phá thạch cho người khác hưởng. Mấy ngày nay tao nghe đồn đại nhiều về cái chức chủ tịch. Thế sự thể ra sao mà để người ta chĩa súng vào ngực thế hả con?”. Cha tôi nói với ông rằng “ngày trước ông cấm con vào ‘hội kín’, con đã dấu ông để hoạt động, bây giờ con xin trình bày thật với ông… Con không ham gì cái chức chủ tịch làm thời. Nhưng con là người lãnh đạo và tổ chức cướp chính quyền ở thị xã và các xã vùng ven. Bây giờ dân tín nhiệm, cấp trên chỉ định, con chẳng thể chối bỏ. Còn cái anh trung đổi trưởng bộ đội ấy rút súng ngắn ra, con nào có ngán. Con phanh hẳng ngực áo ra thách hắn bắn ngày vào ngực này này”. Ông tôi vừa ngán ngẩm vừa lo sợ, thở dài đánh thượt một cái rồi nói: “thôi thì tùy anh, nhưng cứ liệu thôi con ạ”.

Vào một ngày chủ nhật, cha tôi cho tôi ngồi xe đạp, lào vào phủ. Phố Cổng Phủ nối dài với Phố Giữa qua ngã tư. Đó là dãy phố trước đây rất vắng vẻ vì nó là con đường tôn nghiêm dẫn vào Phủ. Hai bên lại là những căn biệt thự của những gia đình quyền quý, nên nó lại càng không thể có nhiều người lảng vảng trên đó. Nhưng nay cha và tôi đã đi xe đạp trên con đường ấy. Khi đến nơi, tôi thấy bao bọc quanh Phủ là hàng cây găng tây, đứng thẳng hàng một cách kiêu kỳ, vượt qua cổng, cạnh con đường rộng bằng sỏi, phía bên phải là một sân quần vợt mà trước kia ông tây, bà đầm thường chơi thể thao ở đó. Đi theo con đường hai bên là phượng vĩ nở hoa đỏ chói dẫn vào Phủ thì gặp một chiếc cổng thứ hai, cánh sắt uy nghi. Một khu đất vuông bao bởi bốn mặt tường thành rộng như con đê, cao đến vài mét. Ngoài thành là hào nước rộng. Một chiếc bát nhỏ, trước kia là Tây, sau này là Nhật, bây giờ là một anh vệ quốc đội mũ ca nô đứng gác, súng giữ ngang thân người.

Cha tôi dẫn tôi vào trong thành, tôi thấy góc thành là một cái lô cốt, có lỗ châu mai. Giữa thành là phủ đường với kiến trúc Gô-tích. Bên kia là dãy nhà của ký, phán, lục sự, nhưng bây giờ thì nơi làm việc của các ban bệ của chính quyền Cách Mạng lâm thời. Không hiểu sao cha tôi lại không cho tôi đi chơi mà cho tôi đi tắm luôn. Hai bố con cùng tắm vòi nước tổ ong xối từ trên cao xuống đầu. Tôi chưa bao giờ được tắm như vậy. Có người đi qua nói vào rằng: “đã bỏ những đêm đi cắt dây điện thoại bằng dao rựa cùn chưa?” Sau này cha tôi kể với tôi rằng: cái đêm cướp chính quyền, để cắt liên lạc giữa Phủ Ninh Giang với tỉnh Hải Dương, với Hải Phòng và Thái Bình, cha tôi đã phải dùng dao rựa, trong đêm tối đen, nhay mãi mà dây điện chẳng đứt.

Những ngày sau đó, tôi lại được đi học. Chỉ có điều tôi là chân dắt ông chính, ông đi đâu đã có tôi dắt đi, ấy thế mà khi tới trường tôi lại nhõng nhẽo, nên cô Cúc thường phải cõng. Cô Cúc là  con ông Giang, cô lúc đó mười bảy tuổi, cô rất yêu quý tôi nên cô chẳng nề chi việc cõng cháu. Nhà ông Giang lại gần nhà ông Chợ (ông Chợ là ông ngoại của tôi, vì ông bán hàng ngoài chợ nên gọi là ông Chợ để tránh tên tục). Tôi đi học chỉ đi đến cổng nhà ông Đội Huy, rồi đứng lì ở đấy mà đỏ mắt nhìn sang hàng dậu dâm bụt bên kia đường để chờ cô Cúc.

Thế rồi những ngày rộn rã sau khi Thị Xã cướp chính quyền, bị thay bằng những ngày lo âu, bởi quân Tàu tràn vào, chúng thiếu gì cứ việc vào nhà dân tự tiện lấy đi không hề xin hỏi. Chúng ăn quỵt ngoài chợ và ở các cửa hàng. Chúng phóng uế bừa bãi khắp nơi và phần lớn là bị sâu quảng. Người ta gọi chúng là quân Tàu Ô. Một thời gian rồi tự nhiên chúng lại biến đâu hết.

Tôi đã bao lần ngắm cánh buồn ngoài sông, thoáng qua hẻm phố từ trên chiếc ban công nhà mình. Nhưng bây giờ tôi đã lớn, cũng đã được đi chơi. Tôi ra tận bờ sông, trèo lên kè bê tông. Đứng trên kè tôi thấy dòng sông Luộc mênh mang, êm đềm trôi về sa, rồi rẽ ngoặt về phía tay trái, ở chỗ ngoạt ấy chỉ còn nhìn thấy làng Tranh trử xanh xanh. Trên sông tôi thấy những cánh buồm, không phải thoảng qua hẻm phố nữa, mà tôi có thể nhìn chúng mãi mãi đi về phía chân trời. Cánh buồm hỡi đến bao giờ ngươi trở lịa nơi đây! Có lẽ lúc đó tôi còn quá nhỏ, chẳng hiểu thế nào là chân trời, góc biển. Còn những cánh buồm kia, chúng sẽ đi đâu, chắc là xa và xa lắm.

Đọc tiếp chương 2. Ngôi nhà bốc cháy

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s