Người quét chợ

Tác giả: Phùng Viễn

Chiều nào đi học về qua chợ Mỹ Trung, Thơm cũng thấy bác đang quét chợ, bác đã ngoài năm mươi tuổi nhưng động tác đưa những nhát chổi còn rất dài và dứt khoát, chỉ có điều trong vẻ mặt bác quá thiểu não. Đôi má tóp lại, râu cằm không dài nhưng trông rất vô tổ chức, hai mắt vàng khè và mờ đục. Chợ Mỹ Trung chỉ họp tới bốn rưỡi là đã hết người, kể cả những ngày chợ phiên cũng chẳng hợp được tới năm giờ. Vì thế nên cứ tầm năm giờ Thơm về qua là thấy bác. Phản ứng đó đã thành một đường “liên hệ tạm thời” trong đầu Thơm. Lúc đầu, nghĩa là từ khi được vào lớp mười trường trung học Mỹ Trung em mới thường xuyên đi qua chợ; em nhìn người quét chợ với con mắt xem thường, vì đó là những con người làm công việc thấp hèn. Thực ra ý nghĩ đó nó tự nhiên hình thành theo ý thức hệ xã hội. Thơm chưa hiểu được cặn kẽ cái quan hiệm đã là lao động thì lao động nào cũng đáng kính trọng. Nếu như thế thì tất cả mọi người phải kính trọng một “anh quét chợ”, nó buồn cười thế nào ấy… Người ta bảo bác quét chợ này nguyên là một người hành khất, ngày đi xin ăn, tối về ngủ quán chợ, sau gặp một chú thu vé chợ cũng là người tử tế, chú nói:

–          Này bác, sao bác không làm việc gì đó mà kiếm sống, tội gì mà xin ăn như thế này?

Người hành khất ngước đôi mắt vàng khé, mờ đục, buồn rầu trả lời:

–          Chú ơi! Tội thì đúng là có, chắc mắc nợ tiền kiếp nên bây giờ tôi mới phải khổ! Còn làm việc gì ư? Chẳng ai thuê một gã ăn mày ốm yếu như tôi. Tôi đã thử hỏi rồi, nhưng người ta không tin là tôi làm được việc. Cũng có người thì nghi ngại rằng thuê gã, nhỡ gã lại thuổng mất cái gì đó!

–          Thế bác có muốn làm nghề quét chợ không để tôi thu xếp cho? Ủy ban nhân dân xã vẫn nhắc tôi tìm một người quét chợ. Tiền công thì không cao lắm, song cũng đủ cho bác sinh sống. Vì đây là một cái chợ huyện miền núi, nên chẳng có công ty vệ sinh nào vươn tới đây được. Tiền công đó trích trong ngân quỹ của xã, cụ thể là trích từ tiền thu vé chợ. Người thu vé chợ thẳng thắn trao đổi.

Vậy là bác đồng ý làm nghề quét chợ. Vì như thế là bác đã có công ăn việc làm, điều làm bác vui lòng hơn cả là bác đã tiến một nấc thang trong xã hội. Người ta thấy ở gần lối ra vào chợ, sát với đường cái, xuất hiện một cái lều chỉ bằng cót rách, bao nứa rách, có cả bìa các-tông bung ra từ những chiếc ô lộn ngược. Trang trí “nội thất” ra sao thì chẳng ai biết vì có ai thèm ngó vào cái lều của người quét chợ! Người ta chỉ biết ở gần cửa lều, chếch sang bên cạnh, đóng một chiếc cọc ba chạc, trên để một cái giá đã bung cạp, trong rá có bát mẻ và đửa tre, cạnh chiếc cọ ba chạc là một lọ nước.

Không ai biết bác lưu lạc từ ở đâu tới đây, quê quán, gia đình, “thân thế” và “sự nghiệp” trước đây của bác gia sao. Ủy ban nhân dân xã tìm được người nhận quét chợ đã là tốt nên cũng chẳng cần tìm hiểu vấn đề này. Trong sổ chi của xã chỉ cần có một danh mục: công quét chợ và bên cạnh ghi số tiền ít ỏi, hàng tháng người thu vé chợ đưa tiền cho bác, bác cũng chẳng phải đến trụ sở ủy ban xã bao giờ cả. Thậm chí bác chỉ có một cái tên “bác quét chợ”

–          Này bác quét chợ! Tiền tháng này của bác đây!

Ngoài ra bác chẳng được ai gọi đến bao giờ. Hình như bác có gảm tình với bọn trẻ đi học thì phải. Mỗi buổi chiều đi học về Thơm và các bạn vẫn nhìn thấy bác đang quét chợ. Nhưng khi đang đưa những nhát chổi dài mà nhìn thấy bọn Thơm là bác ngừng tay chổi, đứng ngây người nhìn theo, cho đến khi bọn trẻ đã khuất về phía xa. Thơm đã phát hiện ra diều đó, dần dần cái ý nghĩ xem thường người quét chợ không còn nữa, nhưng ý nghĩ có cảm tình thì vẫn chưa thấy xuất hiện. Cho đến một hôm, đó là một buổi chiều vàng, buồn bã, tất nhiên là buồn bã với người quét chợ thôi, còn đối với lũ học trò như Thơm thì chẳng việc gì mà buồn bã. Thơm cùng các bạn về qua chợ, lần này khi thấy bác đang quét, mà đang ngồi trên thềm quán gần đường nhất, chiếc chổi dài ghếch bên cạnh, cái mặt bacs cúi gục ủ giột, không nhìn rõ khuôn mặt hốc hác của bác. Bỗng bác ngửng đầu, mắt Thơm và mắt bác gặp nhau. Thơm thì không có ý lẩn tránh đôi mắt bác, còn bác thì lại cố tình nhìn vào mắt Thơm một cách trìu mến. Thơm thấy rõ như vậy. Một ý nghĩ trong sáng bỗng vụt đến. Lần đầu tiên em thấy đôi mắt bác rất đẹp, mặc dù nó vàng khè, mờ đục, nhưng hình như đằng sau đôi mắt kia nó không phải sự tham ăn của một kẻ hành khất, nó cũng không phải là sự tắt téo, bủn xỉn của một kẻ quét chợ thấp hèn. Nó rất giống…, nó giống một cái gì rất quen thuộc, một ánh mắt quen thuộc nào đấy em vẫn gặp hàng ngày mà em không nghĩ ra được. Thơm vừa đi vừa ngoái lại rõi vào đôi mắt bắc để tìm ra một cái gì đó. Còn bác thì nhìn theo, cho đến khi em khuất về xa…

Từ đó mỗi buổi chiều về học, qua chợ Mỹ Trung nhất thiết Thơm phải nhìn thấy bác quét chợ, điều này đã trở thành yêu cầu về tình cảm đối với Thơm, một cô học sinh lớp 10. Em cứ tưởng không phải thế, hóa ra đúng thế thực. Vì một hôm về qua, lại không thấy bác đâu. Tự nhiên trong lòng em thấy trong vắng, một cái gì đố khó bù đắp. Em tự hỏi “hôm nay bác đi đâu nhỉ?” Không được thấy đôi mắt rõi theo trịu mền của bác nữa. Em chậc lưỡi: “hay là bác ốm nằm bẹp trong lều rồi. Thế thì ai cơm cháo, thuốc thang, không cả một lời hỏi thăm sức khỏe bác?” Trong lòng Thơm thấy thương cảm vô cùng, và cũng là lần đầu tiên mắt Thơm ánh lên một nỗi buồn, em lơ đãng nhìn về phía đỉnh núi xa đã ngả sang màu tím. Em bối rỗi không cả nhận ra rằng chợ đã sạch sẽ và như thế có nghĩa là bác không ốm và chắc rằng cũng đang ở trong lều thôi. Em đi rồi còn ngoái lại nhìn mái lều xơ xác và hắt hiu trong nắng chiều.

Một hôm, đi học về, phía trước Thơm là hai chàng trai lớp mười vừa đi vừa cãi nhau bài kiểm tra. Đúng đến sau lều của bác quét chợ thì một chàng túm được một chiếc que, liền vạch ra trên đường đi một hình bình hành, vẽ một đường chéo, rồi quát lên với nhau:

–          Vectơ này! Còn vectơ nào nữa.

Bác quét chợ đang ở trong rậu, đoi mắt vàng khè, mờ đục, chăm chăm nhìn hình vẽ nói:

–          Đúng rồi! Vectơ đường chéo hình bình hành là vectơ tổng.

Nghe tiếng người quét chợ, hai chàng trai buông que gờm gờm nhìn lại rồi bỏ đi. Còn Thơm cũng vừa tới nơi, nghe tiếng thì tiếng bác thì em đứng sững lại như trời trồng, bốn mắt lại gặp nhau, họ không rời mắt khỏi nhau nữa. Như thể họ quen nhau đã lâu nay vừa gặp lại. Bác quét chợ với đôi mắt nhìn trìu mến. Còn Thơm với đôi mắt đầy thương cảm và quý trọng, pha trộn niềm hân hoan. Em tự nghĩ “phải rồi, thế này mà mọi ngày mình không nghĩ ra, đôi mắt bác quét chợ cứ gần gũi thân quen thế nào ấy. Thì ra nó rất giống đôi mắt thạy dạy cơ học ở trường trung học của mình”.

Họ nhìn nhau như người quen lâu ngày gặp lại, mà mãi chẳng thấy họ nhận nhau.

Hà Trung, 22/9/1993

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s