Chuyên gia chăn bò

— Phùng Vễn —

Tôi và Hồ Bái được xếp vào nghỉ ở nhà vợ chồng anh Trung, anh công tác ở Phong Thổ nên vắng nhà, chị thì lại đi nương chưa về. Cô gái người Thái đưa chúng tôi đến, thấy nhà vắng người nên ngồi lại chuyện trò với hai chúng tôi. Qua câu chuyện chúng tôi được biết tên em là Lò Thị Hường, hỏi em làm gì, Hường Nói:

–          Em làm cô giáo, dạy cái chữ ở ngoài trường. Em lên lớp buổi sáng, buổi chiều thì ở nhà soạn bài, chấm bài. Bà con cũng bận đi nương, đi rẫy hết nên xóm trưởng nhờ em đưa các cái cán bộ tới từng nhà để nghỉ ngơi.

Cũng qua chuyện với Hường, chúng tôi được biết anh Trung (chủ nhà) và chị vợ đều là người Thái Bình. Anh lên Tây Bắc công tác, còn chị theo gia đình đi kinh tế mới. Anh chị gặp nhau rồi kết duyên..

Trời Tây Bắc đã ngả sang chiều, Hường đã đưa mọi người trong đoàn chúng tôi tới các nhà, đến hai chúng tôi là lượt cuối nên mới nguồi lại chuyện trờ được lâu. Thế nhưng Lò Thị Hường, cô gái Thái có duyên cũng đành ra về trong sự nuối tiếc của tôi. Gường bên, Hồ Bái đã đi nằm và bắt đầu rên. Chắc anh chàng đau ốm gì đấy! Đợi Hường về rồi, tôi mới tới săn sóc được:

–          Bái! Cậu ốm đau ra sao mà rên đấy?

Bái quằn mình, không trả lời, tôi hỏi tiếp:

–          Chắc đường xa, lại xe pháo mấy ngày trời nên mệt quá chứ gì?

Bái vẫn không trả lời. Thế rồi Bái bỗng ngồi dậy, chạy mải ra sau nhà tìm nhà vệ sinh. Khi quay lại Bái cho biết rằng:

–          Mình bị đi kiết, đã mấy ngày nay rồi.

–          Thế cậu thuốc mên ra sao, sao không báo ăn kiêng mà cứ kéo tràn với mọi người thì sao khỏi được?

–          Trong số thuốc cấp phát cá nhận có thuốc cheã kiết lỵ, mình vẫn uống.

Bái nói rồi lại nằm, lại rên khe khẽ trong chăn.

Thật buồn quá, ra đi trong cái cảnh đau ốm như thế này! Thì ra từ hôm ở Hà Nội đi, hôm đầu nghỉ ở Sơn La, hôm sau Thuận Châu, bây giờ ở Điện Biên, Bái kiết lỵ mà tôi chẳng để ý. Chúng tôi đi hai xe, đoàn tới năm mười người, tuy chỉ có hai anh em cùng ngành, nhưng cũng đủ nhộm nhạo làm tôi chẳng biết được rằng Bái ốm.

Chiều hôm đó tôi báo xuất cháo và bưng về nhà cho Bái. Chị Trung (chủ nhà) đi nương về, cho là Bái bị cảm nên đun cho nồi lá xông, rồi bắt cậu ta rửa ráy lau người, thay quần áo. Tối hômg đó đáng lẽ thay vì nói chuyện hoan hùy với gia đình thì lại là cảnh tĩnh lặng. Chị những tưởng rằng, một mình trong cảnh vắng chồng, nay có hai anh bộ đội tới nhà, gia đình cũng vui lên. Tôi thấy rõ sự lặng lẽ của chị, lúc chị đi ra đi vào dọn dẹp…

 Trời đi về đêm, tôi trằn trọc ở bên để canh Bái, còn cậu ta vẫn rên và thỉnh thoảng lại oằn mình. Ngoài kia cây rừng vẫn xào xạc, gió khô và lạnh vẫn thốc qua từng kẽ lá, không chịu nhừng chỗ cho mùa xuân. Tôi nằm trạnh nghĩ tới người thân ở quê nhà. Liệu ở quê tôi, quê Bái có biết rằng đêm nay, giữa thung lũng Mường Thanh này, cái nơi kề với biên giới chẳng bao xa, chúng tôi đang khắc khoải chờ vượt biên để vào chiến trường C. Rồi mai đây điều gì đang chờ chúng tôi ở bên đó…

Hôm sau tôi đi báo cáo với trưởng đoàn về tình trạng sức khỏe của Bái và đề nghị để Bái được quay lại Hà Nội điều trị, sức khỏe tốt sẽ sang chuyến sau. Khi Bái biết được điều này, cậu ta chẳng nói, chẳng rằng, cứ thế vơ chăn màn, tăng, võng, bạt,.. xếp vào ba lô cóc. Tôi cũng chẳng hiểu Bái làm gì, chỉ biết ngồi nhìn. Tính khí cậu ta rất chủng chẳng.

Bái xốc ba lô lên vai, bao súng và xanh-  tuya- rông thắt vào cái eo lưng mỏng như nhái bén, rồi chệnh choạng bưới ra khỏi nhà, dáng đi đểu đảo vì ốm và vì chiếc ba lô nặng trên lưng. Tôi chạy theo đỡ cậu ta lại:

–          Bái! Cậu đi đâu đây?

–          Tớ ra xe, các cậu cứ để tớ đi. Các cậu sợ tớ chết hay sao? Tớ sang bên đó dù cho có xanh cỏ! cũng được. Các cậu cứ mặc tớ!

–          Ông tướng ơi! Ông nghe cho rõ đã! Chưa có xe qua biên giới đâu! Còn chờ xe Hà Nội lên cơ! Xe ta đang đi thì một chiếc gãy nhíp rồi! Vì thế ta mới phải ăn chực, nằm chờ ở đây, trừ khi ông đồng ý quay lại thì chiếc gẫy nhíp ấy sẽ chạy ngay đó. Nó phải về để vào xưởng sửa chữa của đoàn.

–          Sao cậu không nói cho rõ ra?

–          Thôi ông tướng ơi! Có ông không định nghe cho rõ thì có! Cứ đùng đùng ấy.

Chúng tôi phải nằm lại Điện Biên mất năm ngày. Sau đó thì vượt biên sang Bắc Lào. Bái nhất định không chịu quay lại Hà Nội, mặc dù trường đoàn cũng khuyên cậu ta quay lại và hứa sẽ giấy tờ cặn kẽ.

Bái ra đi trong tình trạng bên càng ngày càng nặng thêm. Để khỏi lọt vào những cặp mắt rình rập, chúng tôi qua biên giới vào lúc xẩm tổi. Xe bật đèn gầm, quanh co đèo dốc và đường như nó cũng không biết tiếc thương những con người đang trong lòng nó nên cứ xóc, cứ lắc hoài. Thế rồi nó thả chúng tôi xuống bìa rừng vào lúc mười hai giờ đêm…

Chúng tôi lặng lẽ lội qua Nậm Ngà, rồi cứ thế mà xuyên rừng, người sau theo người trước mà đi. Hồ Bái được đoàn trưởng phân công hai người khỏe đi kèm. Lúc này tôi cũng chẳng biết Bái đi ở đoạn nào, sau tôi, hay trước tôi…

Chúng tôi đi được nửa đường thì gặp một tốp bộ đội Lào, những người biết tiếng Lào, họ chào hỏi và nói chuyện với nhau. Đó là những người thuộc lớp cựu, họ đã qua chiến trường C mấy chuyến. Tôi hỏi:

–          Mấy bộ đội bạn vừa nói chuyện gì với các anh?

–          Họ nói: các anh là bộ đội “phườn bạn” quân khu Tây Bắc phải không?

–          Chúng tôi bảo không phải. Họ nói:

–          À thế thì chúng tôi biết rồi! Các anh là chuyên gia. Thế thì cơ quan “Vi-la-con” xắp tới rồi…

Đến cơ quan chuyên gia ký hiệu T32A, chỉ có một số ở lại, trong đó có tôi và Hồ Bái. Số kia nghỉ lại vài ngày rồi đi tiếp. Hồ Bái phải đưa vào bệnh xá điều trị ngay.

Tôi ở lại cơ quan một tháng, vừa học tiếp tiếng bạn vừa đi vác gạo, lấy củi. Thời gian này, theo lính cựu đi làm việc, tập nghe tiếng bạn. Thế rồi tôi được đưa xuống tổ điểm để làm việc tại đó. Còn Hồ Bái thì phải đến giúp một đoàn văn công. Hai chúng tôi đều là chuyên gia giáo dục. Đánh lẽ phải được làm giáo dục nhưng vì thiếu chuyên gia ngành văn hóa nên ban chuyên gia cho là “văn hóa, giáo dục” nên giáo dục giúp văn hóa cũng được!

Sáu tháng sau tôi về ban chuyên gia, được gặp Hồ Bái, chúng tôi đưa nhau ra bờ suối ngồi chơi. Tôi đoán chắc là Bái đã có cả một bầu tâm sự. Quả tình là như vậy, Bái nói:

–          Đến bây giờ thì họ mới sáng mắt ra. Họ mới hiểu rằng: văn hóa là văn hóa, giáo dục là giáo dục. Ngay từ khi phân công công tác mình đã nói là mình không đảm đương được nhiệm vụ này. Nhưng họ cứ nhất định khoác vào cho mình.

–          Thế sang giúp đoàn văn công, cậu làm gì?

–          Sáng mình qua cánh rừng này, lội qua con suối này, rồi đến cơ quan văn công ngồi đấy, trưa về ăn cơm. Chiều lại như vậy.

–          Thế cậu nói tiếng Lào thạo chưa?

–          Cả đoàn nói tiếng Việt. Từ đoàn trưởng, đoàn phó, nhạc công, diễn viên, thậm chí cả nhân viên phục vụ nữa, họ đều biết tiếng Việt, thế thì tớ cần gì phải biết tiếng Lào! Hễ làm việc với mình là họ dùng tiếng Việt.

–          Chả bù cho mình, sáu tháng nay mình bị ném lên Lào Sủng. Nếu không súc tiến ngay cái khoản tiếng tăm ấy thì nhiều lúc khốn khó lắm! Mình buồn đến nẫu cả ruột gan. Đến nay về ban, mình mới lại được nói tiếng Việt. Ở đấy có mỗi mình, nói với ai!

–          Còn tớ thì chẳng làm được gì ở cái đoàn văn công ấy cả. Tớ đã đề nghị trả tớ về giáo dục.

–          Anh Bái nói thế là sai rồi!

Nghe giọng nói lơ lớ, tôi và Bái đều quay lại. Vi-lay đã đướng ngay sau chúng tôi, cô là diến viên đơn ca của đoàn. Hỏi ra mới được biết qua Vi-lay rằng: Bái đã làm được nhiều việc cho đoàn. Bái đã giúp đoàn dựng tiết mục, góp ý người dẫn chương trình. Chính Vi-lay mới được Bái tập cho bài “cô gái vót chông”, “em là hoa pơ lăng” bằng tiếng Việt, làm cho những đêm biểu diễn đậm đà, sâu lặng hơn. Đối với ban lãnh đạo thì Bái góp ý về tổ chức. Bái nói với tôi rằng:

–          Cậu đừng nghe Vi-lay nói! Muốn nói gì thì nói, hiệu quả giúp bạn phải được đánh giá bằng vốn, chữ và tiếng bạn, qua sáu tháng công tác, ban chuyên gia đã lục đến cái vốn đó của tớ. Hiện nay tớ vẫn trong tình trạng “vịt nghe sấm”. Hỏi rằng hiệu suất cái nỗi gì?

–          Dù sao thì anh Bái cũng đừng xin về giáo dục. Anh ở lại đoàn với chúng em. Từ khi thành lập đoàn, anh là người đầu tiên đến giúp chúng em. Còn riêng em, nếu anh đi thì em buồn em khỏ đấy. Đấy anh xem, em được cử cầm thư này đến gặp Vi-la-con, xin được giữa anh Bái ở lại đoàn đây. Thôi các anh ngồi chơi, em vào ban chuyên gia.

Nói rồi Vi-lay rẽ lá đi vào rừng, hướng về lối mòn dẫn vào doanh trại của chúng tôi.

Tôi cũng chẳng biết nên nói như thế nào với Bái. Tôi biết rằng Bái tự hiểu mình hơn là bạn hiểu mình. Chúng tôi trầm ngâm ngồi hút thuốc bên suối, thả dòng suy nghĩ theo tiếng róc rách không biết đã từ thủa nào vẫn âm vang tới ngày nay. Con suối buồn quay co, hoa doi nước nghiêng nghiên bên bờ như những quả cầu nhỏ buồn lãng đãng. Dòng nước chảy về xa rồi ẩn mình dưới rừng già. Một chú chim nhỏ xíu, đỏ chót, cứ truyề, nhảy trên cành, như muốn làm ngọn lửa thắp sáng cho cảnh nguyên sinh, nhưng nó quá nhỏ bé không sao sua đi nỏi cái cảnh tranh tối, tranh sáng dưới tán lá…

Cuối năm đó, tôi lại từ tổ điểm về ban. Khi về tới khu tăng gia, tôi tháy ở ven rưgf có một đàn bò đang thư thả gặm cỏ, to có, nhỏ có, bò đực có, bò cái có. Gần đó một anh chàng quân phục xanh, súng AK dựng ngang đùi, mũ lưỡi trai ụp xuống mặt, tự lưng vào gốc cây, lim dim ngủ. Từ đằng xa tôi đã nhận ra đó là Bái. Thì ra là như vậy đấy. Tôi leo qua bờ dốc, rẽ cỏ tranh đi đến, đứng ngang cạnh Bái và lên tiếng:

–          Xin chào ông chuyên gia chăn bò!

Bái choàng người tỉnh dạy, ngơ ngác nhìn. Khi đã nhận ra tôi, cậu ta chào tôi rồi cười, một điệu cười như mếu.

Tôi quẳng ba lô, tháo xanh-tuya-rông, rồi tháo nắp bình toong, uống nước. Sau khi chúng tôi châm thuốc hút, tôi hỏi Bái:

–          Thế cậu tình nguyện làm việc này à?

–          Tớ phản đối kịch liệt thì có! Tớ nói thẳng với họ rằng: nhà nước đào tạo tôi, rồi đưa tôi sang đây làm chuyê gia, chứ không phải sang đây để chăn bò cho các anh!

Tôi chua chát mà nói với Bái rằng:

–          Thì chuyên gia chăn bò chứ sao! Rồi đây cậu sẽ thấy, nếu không phải là chuyên gia thì làm sao chỉ huy được đàn bò!…. Thế còn Vi-lay đâu? Cậu có gặp không?

–          Khi mình được đưa tới đây thì cả đoàn văn công bạn cũng chỉ được biết là mình đi công tác thế thôi. Vi-lay cứ vào doanh trại tìm mình, nhiều lần không được gặp nên Vi-lay đã khóc. Thế mà họ vẫn đang tâm không chỉ chỗ cho nàng. Còn tớ  thì xấu hổ, không dám để cho nàng nhìn thấy tớ đang chăn bò.

–          Thế còn lý do điều động là gì?

–          Lý do thứ nhất là mình chậm tiếng Lào. Lý do thứ hai là chăn bò tối quan trọng.

–          Chứ sao, muốn chính trị, muốn văn hóa xã hội, hay văn công, văn nghệ gì thì cũng phải tống lương thực vào dạ dày, khi đó muốn dễ nuốt thì người ta cũng phải tống cả thịt vào nữa.

–          Cậu về lán, bảo chúng nó nấu cơm cho ăn, tó lùa bò rồi tớ về, ăn rồi lên giường đắp chăn, tán phét với chúng tớ cho vui, về ban làm đ… gì?

Tôi đi theo suối một quãng thì tới khu vườn rau tăng gia. Ở đây họ trồng đủ loại rau, đang non xanh, tươi tốt. Trong nán mấy chàng “nhãi” đang chơi cờ tướng, cười như phá. Thấy tôi, mấy “nhãi” ta reo lên vui mừng:

–          Lại có khách bự rồi, chúng mày ơi!

–          Anh Bái nói các cậu nấu cả cơm cho tôi, có món gì thì cũng phải cho thịnh soạn vào, đêm nay tôi ngủ ở đây tán phét với các cậu.

Tối hôm đó dưới ánh đèn, chúng tôi pha trà uống, cái thứ trà mà người ta tống vào ống tre rồi đem đốt, thành thử nó rắn như đá, phải dùng dao gọt.

Từ trong góc tối một chàng “nhãi” hút thuốc lá, đốm lửa lập lòe nói rằng:

–          Hồi ở bên nước, chúng em chưa đủ tuổi tuyển bộ đội. Cán bộ về tuyển chúng em đi, họ nói là đi làm công tác nước bạn. Chúng em hỏi là công tác gì? Họ nói: phục vụ chuyên gia. Thế mà sang đây lại làm cái việc chăn bò, dắt lợn và trồng rau, chứ chẳng thấy phục vụ chuyên gia mà cũng chẳng thấy chuyên gia đâu.

Thực ra đây là lớp thanh niên xung phong. Họ ngây thơ đến nỗi cứ tưởng rằng phục vụ chuyên gia thì phải lót ga, trải đệm, bê món ăn ngon. Và cũng nhân đấy họ sẽ được sung sướng hơn cái cảnh tương cà, mắm mặn ở quê. Dưới con mắt của họ thì chẳng ai là chuyên gia cả, chúng tôi cũng như họ, cũng bình toong, dao găm, tăng, võng, bạt, mũ cứng, mũ mềm, cũng cùng cảnh chiến trường, cùng ốm, đau, bệnh tật như nhau cả thôi.

Nghe các “nhãi” ta nói vậy tôi liền trợn mắt:

–          Thì chúng tao là chuyên gia, chứ còn ai nữa.

Họ cũng chẳng chịu:

–          Các anh mà là chuyên gia!

Lần ấy khi tôi ra đi, thì Bái được ban gọi về cùng với một chàng trai nữa để cùng đi với tôi xuống tổ điểm (đó là điểm của vùng giải phóng Bắc Lào) để điệu nốt một chú bò về thịt cho đơn vị. Đó là chú bò còn lại, thực ra là bỏ lại thì đúng hơn, vì đã bao lần lính ta xuống săn nó nhưng đành chịu. Từ những năn nào ấy cơ, khi chúng tôi và Bái còn chưa có ở đây, họ đã mua được năm con bò, trong dó có một con bê đực tơ ở cái “tà xẻng” đểm mà tôi đang công tác. Họ gửi lại đó rồi thỉnh thoảng lùa một con về thịt. Con bê đực tơ là con cuối cùng, nó lớn lên theo năm tháng thành một cú bò đực khỏe mạnh và tinh khôn, nó cũng nhanh chóng trở thành đầu đàn. Đàn bò của bản nhất nhất theo sự chỉ huy của nó. Nó dẫn đàn đi ăn ở cánh rừng nào, hèm núi nào, tránh hổ báo ra sao, đều do nó cả. Thế rồi nhiều lần lính ta xuống, trưởng bản dẫn đi, luồn lách trong rừng, rồi chỉ:

–          Đấy… con đó đấy! Nó là của các anh!

Nhưng rồi họ đều chịu, chẳng làm sao lùa được nó. Đến nỗi, cứ dân bản thì khả dĩ còn có người trông thấy nó, còn đã là lính áo xanh thì đừng hòng phát hiện ra nó, chứ đừng nói đến chuyện lùa được nó nữa. Sau cùng, nó mau chóng nhiễm tác phong của bò rừng. Chiều, cả đàn về bản, còn nó biến đâu mất, sáng ra đàn bò đi ăn thì nó lại xuất hiện để dẫn đàn đến một hẻm núi nào đó do nó muốn. Rồi nó tách ra ăn riêng như kiểu bò “độc”. Cũng có khi nó tới nhập với đàn bò rừng. Nói chung nó sống cuộc đời hoang dã…

Ba chúng tôi trèo đèo, lội suối, rồi xuyên rừng ra đi. Lối mòn cỏ tớp ra lấp kín, lá rừng sào sạc như đang nói chuyện với nhau, tiếng hoẵng giác đầu non như báo cho rừng già điều gì khác lạ, tiếng bìm bịp dưới thung lũng đều đều như những lời than vãn với không gian. Còn Bái ta, một chuyên gia chăn bò chính hãng, đã chẳng nói gì trên dọc đường đi. Chắc hẳn chuyến này, một tai họa sẽ đổ xuống đầu chú bò “rừng” kia.

Tối hôm đó chúng tôi tới bản. Sáng hôm sau, tầm tám giờ thì tiếng súng vang lên ở bên kia sông Nậm Ban. Tôi lội sang cùng với mấy anh em. Găp trưởng bản lội về. Ông nói:

–          Sáng sớm hôm nay tôi dẫn anh Bái tìm được noi đàn bò ăn, nhưng không thấy con bò đực. Anh Bái bảo tôi cứ về, rồi anh lủi vào rừng cũng biến mất như con bò. Lâu lắm rồi, nên tôi về. Bây giờ lại nghe tiếng súng, các anh tới xem.

Chúng tôi tới nơi thì Bái và chàng trai cùng đi đã chặt cây rừng xeo được con bò lăn xuống chân núi. Nó nằm chết đấy, một mắt ở phía dưới tôi không thấy rõ, còn mắt phía trên thì trợn trừng giận dữ, chòng mắt trắng dã, lòng đen vẫn còn lườm lên trời.

Bái bây giờ mới lên tiếng:

–          Nó đã không chịu làm bò nhà thì cho nó chịu cái kiếp bò rừng cho rồi.

Mọi người xúm vào, rạch bụng, lột da. Đầu, da, xương và lòng để lại cho rừng, xẻ thịt mang về. Bái đề nghị hai người với cậu ta là ba, ướp muối vào thịt rồi gánh về bản, cho kịp trời tối. Còn lại ai muốn ăn được bao nhiêu thì ăn. Trưa hôm đó chúng tôi chỉ ăn thịt bò tái ướp gằng, không ăn cơm. Thịt bò tái cứ ngọt xớt ở miệng, quá no rồi vẫn muốn ăn, sau đó tôi thấy bí bích quá, nghe trong người cứ ơn ớn, vẻ như cơn sốt rét rừng lại sắp sửa ào ào kéo tới. Nhưng không, lần ấy tôi chẳng hề gì.

Sang tháng sau, vào một buổi trưa nắng gắt, tôi đang một mình trên bản Lào Sủng thì thấy trai bản nhộn nhạo hẳn lên. Rồi họ kéo đi, bản lại vắng tang. Tôi đeo súng, cầm cuốn sổ vơ vẩn đi vào rừng, tìm một gốc cây ngồi mơ màng, buồn đến nhão cả người. Chiều hôm đó, trai bản ồn ào kéo về, họ mang về rất nhiều thịt ôi. Tôi hỏi thì họ nó:

–          Ai Bái đấy!

–          Anh Bái làm sao?! Các anh nói cho rõ xem nào?!

–          Anh Bái dong bò về cơ quan Vi-la-con nhưng con bò không đi được, nó lăn xuống vực chết, nên anh ấy cho chúng tôi.

Thịt bò ôi làm không gian trong bản thối lừng lên đến hàng tuần lễ. Dân Lào Sủng thích mùi thịt ôi. Còn tôi thì khổ sở vì cái mùi như mùi thịt chết trôi ấy…

Thế rồi cái danh hiệu “chuyên gia chăn bò” của Bái cũng đến lúc phải cho nó chấm hết. Chứ cứ để thế này thì bò cũng chẳng ra bò, mà thịt cũng chẳng thành thịt. Người ta đành phải để Hồ Bái đi giúp giáo dục ở Mường Khoa. Bái ra đi vào cái ngày tôi ốm rất nặng, được anh em dìu về nằm điều trị ở bệnh xá… Vào một buổi sáng, Báo vào bệnh xá tạm biệt tôi:

–          Tớ  tới để tạm biệt cậu!

Tôi nằm trên gường bệnh phều phào hỏi:

–          Mường Khoa xa xôi lắm, sao cậu lại cứ phải đến đó? Ở đấy cũng có hai chuyên gia giáo dục rồi. Sao không xin đi trường “Mít Tạ Phạp” hoặc Sư Phạm tỉnh? Ngay đoàn văn công này, họ cũng rât cần cậu?

–          Rất tiếc cậu không phải là “tổ chức” của ban chuyên gia. Ở Mường Khoa tuy cũng có hai người như mọi nơi nhưng ở đó xa, mình ở đây thì “gần lửa rát mặt” mà lị Tớ đi chuyến này chẳng biết đến bao giờ về, cậu cố gắng điều trị, khỏi rồi thì cố mà giữ lấy sức khỏe.

Nói rồi Bái ngồi trầm ngâm nhìn lọ nước đang tiếp cho tôi, nhỏ từng giọt, từng giọt. Chẳng biết rằng cậu ta ái ngại cho cái hình hài ốm yếu của tôi ra sao. Còn tôi thì thấy chán cho cái vóc dáng của Bái. Ngày mới sang đây tuy bị đi kiết, thế mà da dẻ còn tươi tỉnh. Tới nay, mắt thì trắng dã, môi thâm dích, mặt thì tái mét như có bao nhiêu máu thì đã hiến dâng cho bầy muỗi rừng hết cả, trông mà buồn quá. Tôi nói với Bái:

–          Tớ đang tiếp nước, không thể ngồi dậy. Biết đến bao giờ chúng mình mới ngồi được bên nhau, trên bờ suối biếc, hỡi ông chuyên gia chăn bò!

Bái vừa xốc ba lô vừa nói:

–          Về cơ bản là sẽ gặp nhau, nhưng khách quan vốn không chiều lòng người. Cậu cứ yên tâm. Mình đi đây.

Nói rồi Bái đi qua cái khung cửa, ở đấy một khoảng trời sáng làm cho dáng hình cậu ta trở lên đen kịt lại, chiếc ba lô lại quá lớn, nó chẳng hợp với vóc dáng mảnh khảnh của Bái chút nào. Lúc đó tôi còn kịp nhận thấy rằng, lại vẫn chiếc xanh-tuya-rông thắt vào cái eo lưng mỏng dánh như nhái bén, khẩu súng lủng lẳng dưới hông.

Bái đi rồi tôi cứ băn khoăn tự hỏi rằng: sao cậu ta mang nặng thế nhỉ? Chẳng biết lượng sức mình. Thôi cầu trời cho câu ta “chân cứng đá mềm”.

Tôi vẫn mệt mỏi trên chiếc giường bệnh xá, mắt đam đăm nhìn cái khung cửa mà cậu ta đã đi qua. Bệnh xá ẩn mình dưới tán cây rừng, nhưng chẳng hiểu sao ở cái khung cửa lại dể lộ ra một khoảng trời, một cánh chim bỗng bay qua, rồi khuất sau khung cửa để lại khoảng xanh thăm thẳm và những ánh mây trắng bồng bềnh.

Nhờ tiếp nước nên ngày hôm sau tôi đã tỉnh táo, tuy người còn rất yếu. Bệnh xá thì vắng vẻ, hịu quạnh. Con suối vòng ngay sau nhà vẫn cứ reo cái điệu nhạc róc rách dưới chân những tảng đá lớn mốc mác. Tôi mang cây đàn ra bờ suối ngồi và buông cho tiếng đàn nhớ bạn bay theo con suối về cái nơi nào ấy rất xa xôi. Mắt đăm đăm nhìn vào cánh rừng bên kia suối. Từ đây tới Mường Khoa chỉ toàn là rừng, nó dày bao nhiêu nhỉ? Tôi cứ mải tư lự, chẳng biết rằng Vi-lay đã ngồi ngay sau tôi. Vi-lay vẫn đi tìm anh Bái của nàng. Nàng ngồi đó mà dưng dưng cảm động:

–          Anh Bái ra đi chẳng cho em biết, thế mà anh cũng chẳng báo tin cho em gì cả! Em bắt đền anh đấy!

–          Tôi ốm quá Vi-lay ơi! Bái qua đây tôi cũng chỉ nằm mà tạm biệt được thôi.

Thế rồi Vi-lay cũng lại đăm đăm nhìn vào cánh rừng như tôi. Thật tội nghiệp cho cô diễn viên đơn ca, xinh đẹp. Trông nàng cũng phờ phạc. Chắc nàng cũng đang nghĩ như tôi: không biết đến bao giờ mới gặp Bái. Đối với Vi-lay, Bái đã để lại cho nàng những kỷ niệm khó quên. Những đêm biểu diễn, tiết mục cuối cùng, theo phong tục, nó là tiết mục chung của cả diễn viên lẫn khán giả, bao giờ Vi-lay cũng kéo anh Bái lên cùng “lăm vông”, vì những đêm biểu diến bao giờ anh Bái cũng ngồi cùng khán giả, nhưng gần sát với sân khấu. Nàng quên sao được bao làn tập hát cùng anh Bái bên bờ suối, mà khán giả lúc đó là rừng cây và chim chóc.

Lúc đó trong đầu tôi cứ hiện lên rõ rệt con mắt bò oán hận kia, nó trắng dã, lòng đen lộn đi gần hết, lườm lên trời. Tôi bất giác cũng nhìn lên trời. Tôi ngồi với Vi-lay cho đến lúc:

Mây chiều lờ lững không trung,

Bay về đâu? Và bay ở đâu về nơi đây.

Ngày 25/1/1997

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s