Bài sử khác cho Việt Nam

 BÀI SỬ KHÁC CHO VIỆT NAM

 Tác giả: Tạ Chí Đại Trường

Đôi dòng về Tạ Chí Đại Trường

Tạ Chí Đại Trường người Bình Định, sinh ở Nha Trang.
Tên đặt là từ hai địa danh của Khánh Hoà có Nha Trang là tỉnh lị.
Học ở Bình Định, Nha Trang, Sài Gòn.
Cử nhân Văn khoa, Đại học Văn khoa Sài Gòn 1962,
Cao học Sử, Đại học Văn khoa Sài Gòn 1964,
Năm thứ nhất Tiến sĩ Chuyên khoa Sử học, Đại học Văn khoa Sài Gòn 1974.
Giải thưởng Văn chương Toàn quốc , Bộ môn Sử 1970.
Đi lính 1964-1974.
Tù cải tạo 1975-1981.
Qua Mĩ tháng 8-1994 ở Oklahoma City.
Hiện ở Westminster, California.

Tác phẩm: 

Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Nxb. Văn Sử học, Sài Gòn 1973. (Tái bản: Lịch sử nội chiến ở Việt Nam (1771-1802), Nxb. An Tiêm, Hoa Kì 1991; Tái bản: Việt Nam thời Tây Sơn – Lịch sử nội chiến 1771-1802, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội 2006.)

Thần, người và đất Việt, Nxb. Văn Nghệ, Hoa Kì 1989; Văn Học xb., Hoa Kì 2000, bản mới; Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2006, bản mới.

Một khoảnh Việt Nam Cộng hoà nối dài, Nxb. Thanh Văn, Hoa Kì 1993.

Việt Nam nhìn từ bên trong và bên ngoài, bài viết riêng được gộp chung với Nguyễn Xuân Nghĩa, Nxb. Văn Lang, Hoa Kì 1994.

Những bài dã sử Việt, Nxb. Thanh Văn, Hoa Kì 1996.

Những bài văn sử, Văn Học xb., Hoa Kì 1999.

Lịch sử Việt Nam trong tầm mắt người Việt: Một lối nhìn khác. Bài viết cho Williams Joiner Center (UMASS/Boston) 2002.

Sử Việt đọc vài quyển, Văn Mới xb., Hoa Kì 2004.

Người lính thuộc địa Nam Kì (1861-1945), bản thảo 1975.

Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam, bản thảo bắt đầu 2005.

Ngoài ra có thể thấy bài rải rác trên các tạp chí Hợp Lưu, Văn Học, Hoa Kì, báo mạng Talawas, kể cả một bài tình cờ ở Văn Nghệ Công nhân, Tạp chí văn học của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam số 40 (4-2006), tt. 71-79.

Chương giới thiệu

PHẦN BÊN LỀ

 

“Lịch sử chỉ là những tiếp diễn của sự kiện mà không có cùng đích. Một quan điểm lịch sử hiện đại hoá như đang được bênh vực [tán dương những công trình thống nhất trong lịch sử Việt], mang tính chất finaliste trong triết thuyết, là của tôn giáo chứ không phải của khoa học. Muốn mượn ý của A. Comte thì phải nói là chúng ta vẫn đang đứng trong thời kì tiền sử của sử học chứ chưa bước vào thời kì có sử…”

Đó là một câu viết trong Sử Việt, đọc vài quyển (Nxb. Văn Mới, CA 2004, trang 294) tuy có vẻ dùng để chống báng một loại “sử học thời sự” như vừa có đủ bằng cớ chứng minh trong hơn 50 năm qua, nhưng quả thật chỉ là ý nghĩ bình thường của những người muốn làm việc sử học nghiêm túc. Nó vốn xuất phát từ những bài học căn bản cho “nghề nghiệp” của nhà trường đem dàn trải ra. Cho nên, đem áp dụng những bài học sơ đẳng từ trong thời nào xa tít, cộng với một chút lăn lộn tạo thêm tự tín bây giờ, chỉ mong rằng các dòng chữ sau đây là của một tập sử Việt thời có-sử, tuy chưa hẳn là hình ảnh trung thực của quá khứ nhưng chắc chắn đã không còn là huyền thoại bao trùm nữa.

Từ lâu, người ta đã quen với việc đọc mười quyển sử đã ra đời rồi đọc quyển thứ mười một của người “sưu tập” sử phẩm viết tiếp theo, người này đến sau nhưng có khi cũng không hơn gì mười ông trước. Đó là vì sự hình thành một nền sử học khoa học Việt Nam đã không được tiến triển thuận lợi ngay từ căn bản của quá khứ, lại còn phải chịu đựng trầm trọng thêm vì một hệ thống chính trị, theo kinh nghiệm tranh quyền, đã thấy rằng sự sử dụng lịch sử theo hướng quá khứ thật có ích lợi trong việc củng cố quyền lực cho mình.

Việt Nam từng vay mượn, chia xẻ một nền sử học chung thành hình ở Á Đông cho nên cũng phải vướng vào những khuyết điểm mà nếu bị xoáy sâu vào đó thì sẽ thấy ngay những dấu hiệu tiêu cực bộc lộ thật tệ hại. Trong hướng độc tôn hoá quyền bính thì việc viết sử là của nhà nước đã khiến cho sử quan lệ thuộc thật nhiều vào hệ thống tạo dựng, trả lương, điều khiển họ, lệ thuộc có khi ăn sâu cả vào trong tiềm thức, dù rằng đôi khi cũng có một vài chứng dẫn ngông nghênh của cá nhân, lôi từ trong hệ thống ra một số nguyên tắc lí tưởng dùng để “rửa mặt” cho tình trạng quỵ luỵ thảm hại kia. Việt Nam vừa thoát khỏi “đêm mù Trung cổ phương Đông” không lâu thì cuộc chiến giành độc lập lại lôi đất nước trở về khung trời chuyên chế ngàn năm cũ, trong đó chuyện kể về những anh hùng dân tộc, những chiến thắng vẻ vang có thật hay được tô vẽ theo tình hình mới, đã không cần thành sách vở nhưng vẫn tạo nên một khung lịch sử vững chắc trong đầu óc quần chúng để người cầm quyền mới tiếp tục khai thác, vò nặn lịch sử trong lòng tay mình. Lịch sử trở thành biên kịch, tiểu thuyết, thành huyền thoại ngay trong đời sống hiện tại, tin hay không mặc kệ! Thành phần trí thức Việt lại cũng không có quá khứ độc lập, cứng cỏi đủ để làm ảnh hưởng đến chiều hướng đã định của người cầm quyền. Từ “kẻ biên chép ở nhà trong” / nội-thư-gia của Lí đến “người trong nhà chủ” / gia-thần, “thằng bé biên chép” / thư-nhi của Trần, “bầy tôi cùa vua” / quốc-thần của Lê Nguyễn, “người trong biên chế, con em công nông” một thời gian dài của thời mới, họ không đủ sức để thoát khỏi những những khuôn khổ xếp đặt bởi những chủ nhân thật sự trong hiện tại và quá khứ của họ, dù rằng có khi loáng thoáng ta thấy một vài điểm xuyết thu nhận từ kiến thức mới còn sót lại của thời thuộc địa hay len lách được qua những ngăn cấm không cản trở được của kĩ thuật mới.

Chính vì sự trì trệ quá sâu như thế mà ta thấy các sử gia, học giả trong nước không những bằng hành động mà cũng đã tuyên bố hoặc ghi rõ là họ làm việc nghiên cứu để phục vụ chế độ qua các văn kiện Đảng, các chỉ thị của cấp uỷ lớn nhỏ. Hãy nghĩ đến hệ thống thư lại văn sĩ, học giả cặm cụi viết các Văn kiện Đảng, Nhà nước (nghị quyết, diễn văn cho Bộ Chính trị, cho các ông chủ tịch…), đến những người đào tạo cấp bằng Đại học cho các “cán bộ khung” của hệ thống Đảng bộ, hành chính, những người từ trung ương về các địa phương chủ trì, đứng tên cho các công trình nghiên cứu của các tỉnh uỷ… Cho nên có những chỉ thị, quyết định trừng phạt những ai “nói xấu” anh hùng dân tộc, danh nhân nước nhà, bắt buộc các người đã chết này phải sống như thần, như thánh cho vừa lòng người cầm quyền vốn thật tình là bênh vực người của địa phương mình, phe phái (giai đoạn của) mình. Tính chất “dân chủ tập trung” trong chuyên môn đã làm lép vế những chuyên viên, hạ thấp trình độ của họ khiến nổi lên phong trào “quần chúng viết lịch sử,” như đã từng được ca tụng là “làm nên lịch sử.” Quần chúng đó lại không phải là dân tay cày tay cuốc mà là những tay ngang, ngoại đạo ngang ngạnh lớn tiếng “làm việc sử học.” Có vẻ dễ thương hơn nhưng cũng lạc loài không kém là trường hợp mới đây của một nhà thơ tháo vát, cổ động “cách nhìn mới” (cũ xì!) cho một triều đại đã chịu thật nhiều tai tiếng trong một thời gian dài mà sự nhận định xuôi/ngược không hề làm suy suyển uy tín những người cầm trịch điều khiển. Lôi người đi xa về xứ gốc là đi theo một phong trào địa phương chủ nghĩa trong sử học đang lan tràn, nổi bật trái khoáy là của “địa phương” Hà Nội với các công trình tân tạo, vẽ vời Thăng Long, thành lập Bảo tàng Hà Nội tranh giành cổ vật quốc gia… Vì không phải là chuyên viên nên ông ta không biết rằng những người kia, khi định dựng một NƯỚC riêng đã xác nhận quê hương mới cho mình: “Nhà ta phát xuất từ Ô Châu (Thuận Quảng).” Thế rồi khi có được Nước Lớn Hơn, họ đã đặt tên riêng (Việt Nam) cho dòng họ mình và xây Thành đô (UNESCO) nơi phát xuất được điều chỉnh đó (Phú Xuân / Huế) để sống theo một phong cách khác hẳn, không nghĩ gì nhiều về quê xưa, trừ cái mả hoang phế của ông tổ giữa rừng nhờ còn lưu mấy cục đá làm chứng tích cho đám dân thang mộc ấp ở đấy kiêu ngạo với người chung quanh, và để bây giờ có cuộc hội thảo quốc gia khoả lấp những lời mắng mỏ tàn tệ xưa.

Tuy nhiên những người theo/thuận chiều thời thế kia phải loay hoay trong tinh thần “dân tộc,” “yêu nước” đáng khen mà khô cạn sáng tạo đó không nói làm gì nhưng cả những đồng nghiệp bên ngoài, hoặc mang tinh thần chống đối về chính trị hay được thừa hưởng một nền giáo dục khác lại cũng không thể làm khác hơn, chỉ vì di chứng vẫn chưa dứt bỏ được và vì chịu sự cuốn hút trong vô thức từ vị thế nhỏ bé của mình đối với khối quốc gia gốc lớn rộng. Những bàn tán xôn xao về kiến thức sử học trong các trường trung, đại học xuất hiện trên báo chí Việt Nam tháng 3-2008 chỉ là sự đột khởi mới để lấp khoảng trống truyền thông của một tình trạng chính trị hoá lịch sử tệ hại đã được kéo dài rất lâu mà không phải người ta không thấy. Kiến thức về lịch sử Việt Nam rõ ràng là đã được điều kiện hoá chặt chịa, đã được “định hướng” trong thế quần chúng áp đảo, cả về tương lai lâu dài. Sự thụt lùi của một nền sử học khoa học ở Việt Nam từ trong quần chúng lên đến tầng lớp trí thức đã tỏ rõ trong hiện tượng công khai hay lẩn lút theo thuyết Việt nho của Lương Kim Định và thuyết “Việt Phật” của Lê Mạnh Thát, cho thấy cả một sự hoang tưởng để mong bù lấp sự trống vắng của kiến thức cá nhân và lấp liếm cho sự tự ti kéo dài của tập thể – với khác biệt nhỏ của hiệu quả là thuyết sau ra đời muộn màng nên không có tình hình thuận tiện để được đón chờ lan rộng, vồ vập đến hung hăng có lúc điên cuồng như thuyết trước.

Nhưng viết một điều gì thì không phải chỉ cho người cầm bút mà còn phải quan tâm đến người đọc nữa. Một khuôn khổ đã được lập trình suốt cả ngàn năm, bây giờ sắp xếp lại tất không tránh được sự vụng về của người ra tay, đồng thời là sự bỡ ngỡ của người tiếp nhận. Chưa nói đến cái “mới”, cái “khác” cũng đã gây sốc cho người bảo thủ, có quyền bính hay không. Vì thế đã thấy phản ứng về những bài viết trước, là: nói ngược, lập dị, với thời thế là “nói xấu chế độ / dân tộc,” “phản động,” cả đến “cò mồi cho Việt Cộng” nữa… Tuy nhiên ngoi lên được từ những la ó – có khi gầm gừ ấy lại có những kết quả công nhận cụ thể, tuy theo tinh thần chính trị đương đại, không được phép ồn ào nhưng vẫn là có mặt, theo với sự thấm thấu qua không gian nhờ kĩ thuật mới. Một số ý tưởng khó nuốt thì được hoà nhập thân xác mới theo những cấp độ trình bày mạnh dạn hay rụt rè ngượng ngập… dù sao cũng chưa từng thấy xuất hiện trước đây. Hãy kể chuyện nho nhỏ như chuyện làng ca trù Lỗ Khê tẩy chay, không dạy bài “Hồng Hồng Tuyết Tuyết” của ông nghè Dương Khuê cho cô nghiên cứu sinh Pháp (báo Thanh Niên 27-4-2007) dù rằng bài hát nổi tiếng này đã được Lỗ Khê trình diễn và được thưởng Huy chương Bạc 2005, được danh ca Hà Thị Cầu thu vào đĩa lưu trữ, và xa hơn, đã được đập tom chát trong xóm Cầu Kiệu ở Sài Gòn trước 1945 – tất cả hình như chỉ vì một nhận định rất bình thường của chúng tôi trong quyển Sử Việt, Đọc Vài Quyển (2004)…

Trước khi chúng tôi mở bài khảo sát về lịch sử cái đình làng thì mọi người chỉ khảo tả “cái sườn,” xác thân của ngôi nhà chung cho rằng có từ thời Hùng Vương cổ sơ đó, và tán tụng ông thần mang ích quốc lợi dân trong các sắc vua ban mà thôi. Thế rồi trong tinh thần “chống phong kiến,” người ta bỏ cách nhìn lịch sử từ trên triều đại để chuyển qua nhìn ngắm quyền lực quần chúng, và từ đó sử dụng cái đình làng như chứng tích về tinh thần kết tập căn bản đã làm nên dân tộc Việt, đất nước Việt Nam.

Những người quen nghe từ bài học nhà trường theo kiểu chuyện kể: “chém đầu vua Chàm, ruổi ngựa về kinh báo tiệp,” hay đọc trong Toàn thư về “lòng khoan dung đại độ đối với kẻ chiến bại” của Lê Thánh Tông, bây giờ đọc một số sách giáo khoa trong nước, hẳn không còn bỡ ngỡ với ý kiến của chúng tôi từ những năm 60 của thế kỉ XX, muốn đem Chiêm Thành, Phù Nam vào lịch sử Việt Nam – công việc không phải vì lòng hào hiệp, bao dung nào cả mà vì ý tưởng viết lịch sử cho tất cả những tập đoàn người sống trên vùng đất nay là Việt Nam. Hi vọng rằng với thời đại mới, với thế giới rộng mở, người ta thấy các tên, ví dụ Bradresvaravarman tuy có kì quái nhưng vẫn không có gì “mọi rợ” hơn Bạt-đa-la-thư-la-bạt-la, hay là Bờ-ra-đơ-rét-va-ra-vác-man! Chưa kể đã có những chứng minh đầy tính thuyết phục – trừ những người không muốn nghe, về hậu duệ của tù binh Chàm làm vua nước Việt thực sự, làm tướng quấy đảo, chống đỡ cho các triều đại, về các tín ngưỡng đến từ vùng đất phía nam ngự trị trong cung vua, ngoài dân chúng, không phải chỉ hiện diện ở thời xa xưa mà đã thành một phần nền tảng dân tộc, tinh thần của người “Việt” ngày nay.

Lại cũng phải nói, thật ra điều phối hợp lịch sử gồm các thành phần khác nhau trên một đất nước vẫn không có gì mới như đã thấy từ lâu trong sách của người ngoại quốc, hay của người Việt dùng tiếng nước ngoài, viết về Việt Nam. Nhưng cái “khác” ở đây là ở ý thức chấp nhận các sự kiện: Một đằng coi như chỉ ghi chép theo dòng khách quan phải có, ở đây, với việc đó lại là coi như uốn nắn theo một tiến trình chủ quan hoá, đem lại công bình lịch sử, mở lối cho một nền sử học quốc gia / dân tộc thành hình mà không phải lâm vào sự hẹp hòi thô lậu. Tuy nhiên vẫn phải công nhận là còn có sự thiên lệch trong cách trình bày, đó là vì tài liệu thấy được, quá khứ đã không lưu giữ đều ở các tập đoàn người khác nhau. Thiên lệch chứ không phải là thiên vị. Cũng như nếu có đề cập đến những vấn đề gần đây thì không phải chỉ là cay cú, phản động…

Làm “khác” đi thì những điều khó khăn phải nói thật không cùng, nhưng làm khác đi không có nghĩa là vượt qua được những điều người trước đã gặp. Cho nên dù sao cũng phải có những thỏa hợp ở một mức độ nào đó để cho “bài sử khác” vẫn là bài sử Việt Nam. Khó khăn ngay ở những điều tầm thường nhất vẫn còn đó. Đến bây giờ dùng “quốc ngữ” để ghi lịch sử mà vẫn không làm sao gọi đúng tên các nhân vật – một thành phần thiết yếu để dệt nên quá khứ. Tất nhiên phần lớn danh từ riêng có gốc là danh từ chung nhưng khi chúng trở thành riêng thì không thể mang hình dạng “gần gần”, “sao cũng được” mà phải được định hình không thể nào thay đổi, một chừng mực nào đó giống như cái tên nằm trên tờ giấy khai sinh đi theo suốt cuộc đời, không phải chỉ chính là bản thân người mang tên đó mà còn là sự công nhận của xã hội đè lên nó nữa. Thế mà chưa kể những khó khăn từ gốc văn bản xưa mang hình thức văn tự khác, với những chồng chất vấn đề của nó, lời nói ngày nay vẫn mang dấu ấn lịch sử để một số khác biệt đã thành hình, thêm với tác động của những ngẫu nhiên bất chợt khiến không thể nào sửa chữa, đính chính được. Khoan nói đến sự chọn lựa có ý thức, một thói quen từ sự sai lạc nhưng tồn tại lâu dài cũng trở thành một dấu vết lịch sử. Ví dụ gần nhất là một lớp người rời nước được gọi là H-Ô, cái tên vốn từ một mã số hành chính H. 01, H. 02… thay vì đọc H zero 1, H zero 2… lại được phát âm là Hát Ô 1, Hát Ô 2… (lạc loài bất ngờ như theo kiểu đọc tên các nước Một Răng / Iran, Một Rắc / Irak), để rồi sự tiện lợi cứ tiếp tục lấn lướt lẽ đúng sai.

Hai tên Ngô Thì Nhậm / Ngô Thời Nhiệm nằm trên hai đường phố Bắc Nam được hiểu rõ ràng không thắc mắc, nhưng tại sao một tướng của Tây Sơn lại có tên Vũ Văn Nhậm chứ không phải là Võ Văn Nhiệm(/Nhậm)? Lí do có lẽ vì đây là viên tướng Tây Sơn mang đầy đủ tên họ tuy thuộc loại có tranh chấp về phát âm (vũ/võ, nhậm/nhiệm) lại đi đánh miền Bắc, được các nho thần ở đấy ghi chép (Hoàng Lê nhất thống chí) rồi qua tay các sử gia cùng vùng đất địch, viết ra quốc ngữ theo phát âm tại chỗ, nên thành “chết tên,” không đổi được. Cũng như Võ Tánh, vì chưa vượt sông Gianh, không thể nào là Vũ Tính được. Ông Hoàng Diệu, nếu không chống đỡ cho Hà Nội mà làm Tổng đốc Bình Phú chẳng hạn thì chỉ là Huỳnh Diệu như Huỳnh Thúc Kháng thôi. Nhưng tại sao một cơ sở huấn luyện của triều đình Thăng Long lại được gọi là Giảng Võ chứ không phải là Giảng Vũ?

Sự sai sót căn bản bắt nguồn bởi lí do từ xưa chúng ta không có một thứ văn tự biểu âm để, ví dụ có xác quyết rành rẽ là Lí Bí hay Lí Bôn. Rồi tiếp theo, là do rất nhiều nguyên cớ tụ hội vừa có tính cách địa phương (phương ngữ phía Nam ảnh hưởng bởi Hoa ngữ của dân lưu vong, biệt xứ như Hoàng Thị Châu và Cao Tự Thanh nêu rõ) vừa có tính cách lịch sử theo đà phát triển của quyền lực, dẫn đến những đổi thay của kẻ vội vã theo thời mà trong đó vẫn vướng víu những trì níu xưa cũ tạo thành những rối rắm thấy trên những trang sách. Thời thống nhất mang theo quyền lực của Nguyễn đã đưa các âm phía nam đi ra không gây chút thắc mắc nào, như chữ “thời gian” (loại kị huý) chứ không phải là “thì gian” chẳng hạn. Cũng như theo đà thống nhất vừa qua, dần dà có những đổi thay về tên cũ được đọc, viết theo cách phát âm mới của Miền Bắc, thành công cũng có (như Ghềnh Ráng chứ không phải là Gành Ráng – ở Quy Nhơn, như Tân Sơn Nhất chỉ còn là Tân Sơn Nhứt trong giao tiếp tại chỗ), hay thất bại trở về tên địa phương sau nhiều tranh cãi gay go (như cây cầu Trường Tiền bắc qua sông Hương, muốn đề bảng tên Tràng Tiền cho giống một phố ở Hà Nội.) Quá khứ không được dứt bỏ và hiện tại rụt rè trong việc lơ đãng sử dụng đồng thời văn pháp Hoa/Việt khiến có những biện minh sai lầm mà cứ tưởng là chân lí, nhất là khi viện dẫn đến tinh thần dân tộc, yêu nước để khó có ai cãi lại. Thật là xưa, nhưng không ai thắc mắc nhiều về tên gọi Quan Bích chỉ là theo văn pháp Việt. Lại cũng hình như không ai thắc mắc về hai tên Bắc Hà, Nam Hà ngay trong nguyên bản chữ Hán. Bởi vậy cho nên mới có tranh cãi về danh hiệu Việt Nam có phải là riêng biệt của Nguyễn hay không. Tuy nhiên ngoài tính cách chính thức về tên quốc gia của riêng triều Nguyễn, chữ Việt Nam dù có thấy trong bia đá, trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi (giả định rằng chữ còn giữ đúng với bản gốc thế kỉ XV) thì đó cũng chỉ là lối viết hoặc sơ hở không quan tâm đến văn pháp Hán, hoặc bởi nhìn chữ “việt” theo lối khác, chữ “việt” chỉ đất Quảng Đông, Quảng Tây mà thôi!

Đổi khác một lề lối suy nghĩ, tìm ra một tổng hợp thay cho cả một quan niệm sử học đã thành nếp, có quá khứ nhiều trăm năm, cộng thêm những áp lực quyền bính mới, đâu phải là chuyện dễ dàng. Thì hãy làm những thu xếp nhỏ, hãy cứ để sử dụng những từ ngữ, danh xưng đã thành quen, trừ phi cần đến một sự chính xác mang tính bao quát cho ngành sử học. Cho nên theo đà l’usage fait la loi, vẫn phải gọi tên Ngọa Triều cho ông vua đầy tai tiếng này. Ví dụ cứ dùng tên các ông chúa Nguyễn lâu nay, thay vì theo danh sách mới đưa ra gần đây. Hãy cứ gọi Nguyễn Ánh, Gia Long hơn là Nguyễn Chủng! Cũng như gọi Trần Cảnh chứ không phải Trần Bồ, Trịnh Cương, Trịnh Giang hơn là Trịnh Chù, Trịnh Khương… Nhưng tránh chữ Kinh (trừ khi mượn của sử quan) chỉ người Việt lâu nay vì không những mang tính hẹp hòi khu vực mà còn làm sai lệch lịch sử trong ý nghĩa tiền định về một tộc người “thuần chủng” trên đất nước Việt Nam ngày nay. Chỉ giữ chữ Việt cho tập đoàn đa số nói tiếng Việt trên toàn lãnh thổ, còn (dân) Việt Nam để chỉ các công dân của nước Việt Nam bao gồm dân Việt và các tộc người thiểu số khác. Vì dính dáng tới quá khứ lâu đời nên vẫn dùng chữ Chàm, Chiêm, Chiêm Thành cho tộc người từng lập quốc trên bờ biển Miền Trung ngày nay – chữ Chăm là để nói về tộc người này trong hiện tại mà thôi.

Đáng lẽ có hình ảnh cho “sáng” sách, có đồ biểu, thống kê, bản đồ… cho “nghiêm túc” nhưng không làm được. Đành vậy (để bào chữa). Ai có nghĩa khí giang hồ thì xin giúp một tay. Cả Thư mục tham khảo để giúp ý kiến cũng được sao hay vậy (vừa có đó trong tay đã lộn mất đâu rồi), chỉ giữ tên sách cho thấy có món nợ gộp chung, phần lớn không nêu rõ ý tưởng riêng biệt nào là của ai, đành cứ coi như lấy của người mà cố ý chạy tội vậy thôi. Với lại người viết từ lâu vốn không gặp thuận tiện trong “nghề nghiệp” của mình thì có gì phải phàn nàn về những khuyết điểm lăng quăng?

Ghi chú:

* Tạm giữ làm dấu tích: 30 Tết Con Gà (Ất Dậu) / 9-2-2005, sáng thứ Bảy 6 tháng Tám 2005. Thay thế tựa đề cũ “Bài sử Việt cho người ngoài phố” (Một khoảnh Việt Nam Cộng hoà nối dài) vì nhận thấy chữ “Việt” hẹp hơn “Việt Nam,” thêm nữa, thời thế thay đổi chóng mặt, xe cộ vùn vụt không còn kịp cho những bước chân vật vờ trên đường phố, nay cũng đã mất dạng xưa rồi. “Phần bên lề” này sẽ được gỡ bỏ hay sửa đổi khi hết giai đoạn “Sơ thảo.”
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s