Bài sử khác cho Việt Nam: Chương VII – Một thời tham gia biến động quốc tế

Tác giả: Tạ Chí Đại Trường


Sinh lực mới cho Đại Việt

Một đất nước suy sụp vì tầng lớp lãnh đạo tàn tạ đã không đáp ứng được với tình thế mới mà thời gian đưa đẩy tới. Tuy nhiên Trần thay Lí không phải chỉ là sự thay đổi tông tộc bình thường, chỉ đem lại những tiến bộ nâng cấp so với triều trước, như cho tới gần đây người ta vẫn xếp Lí Trần vào một giai đoạn lịch sử chính trị, xã hội khó tách rời. Đã có một sự thay đổi vượt bực không phải chỉ giản dị là nối tiếp tông tộc. Ngay việc so sánh các ông vua đầu đời của nhau, ta thấy Trần đã mang tính năng động cá nhân hơn hẳn Lí. Trần Thái Tông qua cơn khủng hoảng bản thân gia đình đã đủ sức xông xáo trên đất Tống, Nhân Tông qua chiến trận tan nát đi “vân du” ở đất Chiêm Thành, cả hai hành động như trong một chuyến phiêu lưu bình thường. Các ông vua Trần có kiến thức hơn vua Lí, tâm linh vững chải hơn; Phế đế của Trần đối phó với kẻ cướp quyền Hồ Quý Li một cách bình tĩnh hơn Lí Huệ Tông nổi cơn điên thực sự dưới sức ép của Trần Tự Khánh, Trần Thủ Độ. Có thế Đại Việt mới chịu đựng được để giữ toàn vẹn độc lập trước cơn bão táp Mông Cổ đã làm đảo lộn cả vùng Đông Nam Á trong thế kỉ XIII. Và không phải Trần chỉ thụ động đối phó với tình thế. Kiến thức về ngôn ngữ của họ đã vượt qua khu vực quyền lực cụ thể: Vua quan Trần tiếp sứ Nguyên không phải qua thông dịch đã đành, mà Trần Quang Khải lại thông hiểu tiếng các tộc thiểu số, tuy vẫn còn thua ông em Nhật Duật đã chịu khó học hỏi nơi nhóm tù binh Chàm hơn hai trăm năm trước còn lại trong vùng. Tuy nhiên tính chất trí thức của Trần có vẻ lại không là truyền thống. Chứng cứ có rất nhiều về sự thông thái của các nhân vật về sau, nhưng ở ông vua đầu Thái Tông thì chỉ thấy sự ứng biến ẩn nhẫn theo tình thế, lúc nhỏ, dưới sự dắt dẫn của ông chú Trần Thủ Độ “không có học vấn” như xác nhận của sử quan. Nghĩa là các thế hệ đầu, thế hệ dân giả của Trần đúng là dân đánh cá làm ăn lam lũ như chính họ xác nhận. Thánh Tông làm vua mười lăm năm sau còn tuyển người vào “hầu vua học,” còn kiếm thầy cho con. Sự phối hợp giữa kiến thức mới và cuộc sống sóng gió trên sông nước cũ đã nâng cao tính cách triều đại khi họ lên làm chủ Đại Việt. Thật là một may mắn cho đất nước họ làm chủ khi kiến thức người cầm đầu đã tăng tiến theo với mức độ và khu vực quyền lực có được.

Ở đây hình như không phải chỉ có sự thay đổi tông tộc mà là cả một sự thay đổi tập đoàn bộ tộc lên cầm quyền đất Việt. Sử gia Việt xưa vốn là sử thần, một chức việc được vua – qua lớp quan lại triều đình, cử ra viết sử nên không thể nói gì rõ hơn về gốc gác họ nhà vua lúc còn mờ mịt, sống giữa đám người nhốn nháo khác nên ta không hi vọng hiểu chi tiết về họ ngoài một số lời tâng bốc ca tụng văn vẻ nào đó. Tuy nhiên, trở lại nhìn chuyến qua biên giới Quảng Tây của Thái Tông, rõ ràng là một sự xông xáo quen thuộc trên sông nước của một người ý thức mình đi trên đất lạ mà tự tin rằng có thể vượt qua được hiểm nguy: Xưng “Trai Lang,” cụm từ của người đương thời chỉ con vua Tống, là do thông hiểu trước nên đã sử dụng một thứ thẻ căn cước bảo đảm lừa gạt được đám dân của triều đình phương Bắc ở xa kinh đô, rồi bỏ thuyền lớn của biển cả đổi thuyền nhỏ đi trên sông, đến khi thấy lộ hình thì lại đủ bình tĩnh, nhanh nhẹn để thoát về nước nhà. Ông vua cháu Nhân Tông còn biết truyền thống “nhà ta vốn người miệt-dưới,” bắt phải xăm rồng vào đùi để không quên nguồn gốc, dù rằng “nhà ta” đã đứng đầu thiên hạ cả gần thế kỉ rồi. Thói tục đó không phải là đặc quyền dành cho người trên mà là đặc tính tập đoàn thấy cả ở lớp người phục vụ bên dưới: “Hồi quốc sơ, quân sĩ đều xăm hình rồng ở bụng, ở lưng và hai bắp đùi…” Lớp người “sông nước” đó còn ghi nhận đường di chuyển của tộc họ từ đất Mân Phúc Kiến, có thể đã ghé vào một bờ biển Quảng Tây nên TT bảo “có người nói [Trần] là người Quế Lâm,” rồi đến đất An Quảng của Việt, hình như lưu lại một thời gian ngắn trên vùng Chí Linh, cuối cùng lập nghiệp ở đất Thái Bình, Nam Định ngày nay, “đời đời làm nghề đánh cá.”

Tính chất quen thuộc, tinh thạo nghề sông nước càng tỏ rõ về sau không những trong các cuộc chiến đấu với quân Nguyên mà còn lộ ra trong sinh hoạt đời thường. Ông vua đầu mới lên ngôi thấy tù túng trong vòng thành liền sai lập nhà trên bờ sông để hưởng gió mát với tên điện Gió Nước / Phong Thuỷ. Lụt ngập tràn hoàng thành, ông thân vương Trần Liễu dùng thuyền đi chầu nhân tiện hiếp dâm cung phi triều cũ, cho đến khi mất vợ, xung đột với vua không được, cũng dùng “thuyền độc mộc, giả làm người đánh cá đến xin hàng.” Nghĩa là ông vua sau mười mấy năm lên ngôi Đế đã không ở trong cung điện cướp được của Lí mà vẫn sống trên chiếc thuyền quen thuộc!

Hành trình phiêu lưu sông nước đó được các nhà dân tộc học nhận ra là đặc điểm của tộc Đản. Ngày nay họ được ghép vào tộc Hán nhưng vẫn bị coi là một tộc thấp kém bên lề, để chính họ phải tự nhận riêng là Soisang yan (“thuỷ sinh nhân”) còn người Hoa ở Việt Nam thì gọi nhóm đồng loại đó là Đản Gia Lão. Họ có mặt trong sử Trung Quốc khoảng 800 năm trước như một tập đoàn dân hạ cấp với chi tiết “chân ngắn chỉ thích hợp cho cuộc sống ở biển, bàn chân có 6 ngón,” đôi khi có đuôi! Sinh hoạt thường ngày của họ là trên thuyền bè sông nước, chỉ khi chết đi mới chôn trên đất mà thôi. Họ bắt hàu, mò ngọc trai, thờ rồng nên còn có tên là Long Hộ. Tên tộc nhóm của họ trên đất Trung Quốc ngày nay, theo tinh thần mới, đã bỏ chữ cũ có bộ “man” hàm ý khinh miệt để mang tên (Hán Việt) Đan/Đơn.

Trên bờ đất Việt, họ cũng gồm nhiều nhóm, chứng tỏ ở hội nghị Bình Than về sau. Nhóm Đản ở Chí Linh với cha (?) con Trần Phó Duyệt, Trần Khánh Dư tuy cùng chung một họ nhưng có vẻ là khác nhóm, trước khi nhâp vào nhóm Trần Nam Định đã cướp được quyền làm vua. Trần Phó Duyệt nổi lên trong sử nhờ ông con Trần Khánh Dư, nhưng đã giữ một chừng mực quyền bính riêng biệt vì ta biết được rằng ông có cơ sở vững vàng từ trước nên sử mới nhắc chuyện Khánh Dư đánh Mông Cổ trước khi tham gia vào hàng ngũ Thăng Long (chắc là năm 1281 với quân đưa Trần Di Ái về nước) và do đó được Thánh Tông nhận làm con nuôi – theo tính cách liên minh truyền thống – để lên tước hầu, lúc này mới chính thức bước vào tộc của hoàng đế. Ý thức riêng biệt và quyền hạn của Khánh Dư lớn theo thời thế thấy trong việc thông dâm với công chúa Trần, dâu người nắm binh quyền lớn nhất nước. Ông được vua ngang thế thứ gọi mà không tới, lấy lí do mắc lo kinh doanh riêng huống hồ là đến đời ông vua cháu (Anh Tông), có bị quở trách thì chỉ cần bỏ về ấp riêng của mình, không sao cả. Hành vi tính dục ngang ngạnh của Khánh Dư cũng có thể dùng giải thích chung cho cả họ Trần hoàng đế, không những qua sự buông thả của Cô Hai Huệ hậu lúc còn chông chênh mà còn ngay ở việc Trần Thủ Độ lấy cựu Huệ hậu, việc Thái Tông gả con gái cho con người em ruột của mình – bị Quốc Tuấn cướp mất. Tính nội hôn đó, lúc sang quý thì được giải thích bằng lí do bảo tồn quyền bính cho dòng họ nhưng với các chứng cớ kia thì thật ra cũng bắt nguồn từ cuộc sống tộc đoàn riêng biệt trên sông nước, không giao tiếp với các tộc đoàn khác. Thế rồi về Thăng Long, giữa đất “địch”, chỉ có thể lấy-với-nhau, tính nội hôn càng gắt gao thêm với sự thúc bách phải hoà giải vấn đề Trần Cảnh lấy chị dâu.

Trần cũng hơn Lí ở chỗ dàn trải tông tộc của mình để nắm quyền trên địa vực rộng lớn hơn mà không làm suy suyển quyền bính trung ương. Lí Thái Tông phải giành ngôi nhiều lần với anh em, Thánh Tông cai trị êm ả hơn nhưng có vẻ tuy sử dụng ông em Nhật Quang (TT cho là em của Thái Tông) để quản trị vùng Nghệ An cũng không mấy bằng lòng, đã lưu lại sử sách mối nghi ngờ về sự tàn hại cốt nhục. Thế mà ông con hờ Quốc Khang của Trần Thái Tông tuy được coi như con ruột, cất phủ đệ to lớn ở châu Diễn, khi bị nghi ngờ chỉ chuyển đổi làm chùa thì mọi việc được êm xuôi. Sử quan nói thật rõ, và khá nhiều về tinh thần anh em đồng thuận của họ Trần, bắt đầu từ một tôn ti trật tự trên dưới, cố công vun bồi cho sự vững bền của dòng họ. Nổi bật lúc khởi đầu là vai trò của Trần Thủ Độ. Vị trí trong gia đình dàn bày ra ngoài xã hội qua các ngôi thứ Đại vương, Vương, Thượng vị hầu được sắp xếp cao thấp, đi theo độ gần xa với hoàng đế. Tất nhiên ta vẫn gặp những chứng cớ xung đột nội bộ, hoặc rõ rệt ghìm nén như vấn đề xung đột Trần Liễu – Trần Cảnh ảnh hưởng đến Trần Quốc Tuấn, hoặc được ghi thoảng qua đến mức không thể hiểu được lí do tự sự, hay những mâu thuẫn dẫn đến phản bội khi có cơ hội như lúc quân Nguyên sang, nhưng nói chung sự cố kết rõ ràng là vững chải hơn thế phân li.

Chế độ Thái thượng hoàng hình như được củng cố vì áp lực quân Nguyên, để cho Trần phải sẵn sàng có người chủ nước khi người cai trị thực sự mất đi nhưng có vẻ cũng từ dấu vết đại gia đình dành quyền uy cho người trưởng thượng, chứng tỏ nơi gương Trần Thủ Độ gầy dựng cơ nghiệp cho ông vua bé con Trần Thái Tông khiến ông này có thể áp dụng kinh nghiệm đó vào tình thế mới. Tuy nhiên, xét về mặt thực tế theo những sự kiện xảy ra, được biết, thì chế độ Thái thượng hoàng cũng gây ra nhiều lủng củng. Ông vua-cha có quyền trên ông vua-con khi chính ông còn sống như khi Nhân Tông đe doạ truất phế Anh Tông khi ông này say rượu; Dụ Tông có vẻ chịu bó tay khi Minh Tông còn sống nên có hai niên hiệu trong đời thì giai đoạn Thiệu Phong (1341-1357) mờ nhạt, chỉ đến giai đoạn Đại Trị (1358-1369) lúc vua-cha chết đi mới thấy có thay đổi “không kể xiết” như Nghệ Tông nặng lời. Thế mà trong cuộc bình công đánh Nguyên, có người chỉ được phong một chức quan hờ chỉ vì dâng tù binh cho Thượng hoàng chứ không cho vua-con – người tù binh này không phải thứ tầm thường: Ô Mã Nhi! Chế độ Thượng hoàng khiến cho trong giao thiệp với Nguyên chính ông vua-cha được coi là người đương quyền như Lê Tắc vẫn dùng chữ “Thế tử” chỉ định, thế mà trong chuyến Trần Di Ái đi sứ, Hốt Tất Liệt ra chiếu lập “chú họ” của Thánh Tông làm An Nam Quốc vương, thứ bực tông tộc đó đáng lẽ phải dành cho vua đương quyền: Nhân Tông! Lầm lạc có thể cho là vì đường đất cách trở nhưng cũng cho thấy là có tình trạng vua Nguyên nhìn một đàng, vua Việt chỉ một nẻo.

Thân thuộc họ Trần đã dàn trải ở những nơi nào? Cốt lõi gia đình vua khởi đầu là ở ấp Biển quê mùa rồi mang tên văn minh: hương Đa/Tinh Cương, nơí chôn 3 ông vua khởi đầu và ông Thượng hoàng chưa từng làm vua (1234), nơi có quân bộ thuộc tin cẩn. Hương Tức Mặc, nơi được chọn làm một thứ kinh đô thứ hai, với nhà cửa được xây cất (1237), có điện của ông Thượng hoàng trị nước từ quê gốc. Cho nên trên vùng Đại La Trần chiếm được từ Lí, Lê Tắc đã ghi nổi bật hai phủ mới: Long Hưng (Đa Cương), Thiên Trường (Tức Mặc). Sử còn ghi về những người có danh vọng: Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chẩn ở Chí Linh. Trên vùng “trại” thì có thân tộc cai trị hẳn như trên đất lạ: Nhật Duật và con cháu ở Thanh Hoá, Quốc Khang và con cháu ở châu Diễn. Họ “đều ở phủ đệ nơi hương ấp của mình, khi chầu hầu thì về kinh, hết việc lại về phủ đệ”. Đã bỏ nước lên bờ thì phải tính toán đến việc chiếm điền thổ. Thế mà đất cũng đã có chủ, chỉ có thể khai khẩn đất mới mà thôi – nhu cầu càng cấp thiết khi nhân số tăng lên. Các vương hầu, công chúa do đó dùng gia nô đắp đê ngăn mặn, cày xới đất bồi, mở những điền trang mới (1266). Tất nhiên cũng có người chắc là chậm lụt hay tiêu pha quá khả năng nên phải luỵ vào gia thần kẻ dưới như ông con út Thái Tông lê lết nơi nhà Phạm Ngũ Lão, nhưng nói chung cách rải người chiếm đất như thế đã tạo thành một thế chân rết diện địa giữ gìn được cơ nghiệp của dòng họ. Và cũng không thể có vấn đề cát cứ cướp quyền. Ngoài sự khéo léo dàn xếp theo tình cảm riêng tư, Trần còn tạo được một hệ thống điều hành việc nước, một trật tự tôn ti dàn trải trước mắt dân chúng, quan lại dưới quyền để không thể lẫn lộn sự chính thống là thuộc về ai.

Tổ chức quản lí lãnh địa

Dù sao thì Trần cũng lên cầm quyền, thay thế ngay ở vị trí trung ương của một thực thể đất nước có khuynh hướng tập trung như đã nói, nên Trần có thể dễ dàng khai thác những thành quả của Lí lưu lại để cai trị Đại Việt một cách vững vàng hơn. Hội thề trung thành mở ra liên tiếp trong thời gian chông chênh giành chính quyền với tính cách riêng tư, với những ông thần khu vực (1214, trước “đền Đỗ Thái uý” / Đỗ Anh Vũ?), mãi đến khi lấy đươc ngôi mới có ông thần Đồng Cổ để tổ chức thành lệ thường hàng năm từ 1227, có “trai gái bốn phương đứng xem chật ních bên đường như ngày hội lớn.” Số người triều cũ trung thành với chúa mới được trọng đãi, đề cử làm những việc quan trọng. Vẫn noi gương Lí dùng hành khiển hoạn quan để điều hành việc nước nhưng tể tướng là hoàng tộc có học – và về sau là nho sĩ khoa bảng, khiến cho tính chất trí thức của triều đại được nổi bật lên, việc cai trị mang tính duy lí hơn là đắm mình vào việc khẩn cầu thần thánh. Đạo Phật vẫn là cơ sở chủ đạo quan trọng của ý thức trị nước nhưng Nho Giáo đã chen vào phồn tạp hơn. Tuy vẫn còn thấy lẻ tẻ buổi đầu những cuộc thi lấy người làm lại viên, cuộc thi Tam giáo hỗn tạp nhưng riêng cho Nho Giáo đã được tổ chức thành lệ trên cấp bực cao (1232) để những danh vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa (1247) rồi sẽ trở thành cùng đích ước muốn của dân Đại Việt về sau.

Quan lại đã có lương bổng một chừng mực, có quy định thời gian giữ chức, thời gian thăng thưởng. Luật lệ tổ chức được san định, ghi thành sách, không phải chỉ là hình luật như trước. Ngoài bộ phận hành chính đã có cơ quan Ngự sử đài – không phải chỉ những ngôn quan lẻ tẻ – để kiểm tra lề lối điều hành việc nước, gần gũi trong chức phận là nhắm vào các quan lại đương triều, và ở một chừng mực lí tưởng tuỳ thuộc vào tính chất người chuyên trách, là ghi chép, uốn nắn hành động của vua. Tất nhiên vào buổi đầu cũng vẫn còn thấy những sinh hoạt buông thả như trường hợp người ta ghi lại sự lép vế của ông ngự sử Trần Chu Phổ không can được vua, đành chỉ theo mọi người trong bữa tiệc vua ban, giả say sưa “giang tay mà hát.” Dần dà về sau có những tập nhóm, phe phía không phải chỉ là mang tính thân tộc mà là khu vực kiến thức như nhóm nho sĩ quan lại Trần (Đỗ) Khắc Chung, Đoàn Nhữ Hài nhân tụ họp việc nước cũng bàn leo, nói lén về tầng lớp chủ Trần của mình. Tất nhiên là có thêm những tập nhóm giàu thuộc tầng lớp thấp, có khi là nô bộc, ảnh hưởng đến tầng lớp trên mà ta chỉ thoáng thấy chỉ vì sử quan không thèm để ý ghi chép. Việc vương hầu Trần lập điền trang trên đất bồi chứng tỏ các chủ đất cũ không bị lấn át, và còn có thể vươn lên như trường hợp Phạm Ngũ Lão. Họ chỉ suy sụp theo với tình thế chiến tranh, phải chịu thất bại vì dời đổi phe phía hay bởi nguyên cớ cá nhân mà thôi.

Trần từ bờ nước lên đất liền làm hoàng đế nên không thiết tha với ruộng đất theo cách của một ông chủ ruộng nữa. Bị ông cháu oan gia Quốc Tuấn theo tộc tính buông tuồng nhân tiện trả thù nhà, cướp mất con gái, Thái Tông liền lấy ngay 2000 khoảnh ruộng cướp của Lí bồi thường cho phía nhà trai. Không hẳn “khoảnh” phải được tính theo sát nghĩa “100 mẫu” nhưng số lượng bồi thường hẳn là lớn mà Thái Tông có vẻ không chút nào thắc mắc. Vì thế nên khi thấy toán quân Mông Cổ chiếm được nước Đại Lí ở Vân Nam lăm le tràn xuống, Thái Tông cũng đem “quan điền” bán rẻ theo kiểu vớt vát được chút nào hay chút nấy. Trần không cần ruộng hiểu theo nghĩa thu hoạch trực tiếp vì đã đẩy quan niệm vương thổ thấp thoáng trong thời Lí lên đến mức phổ biến. Trần đã thu thuế đất, thuế người như một Nhà nước, không phải chỉ lấy hoa lợi mà còn là tiền bạc, vật phẩm. Đồng tiền dưới đời Lí được vua đúc ra để làm tặng vật mang tính uy thế mua chuộc, còn Trần thì đã coi như vật trung gian trao đổi khi quy định số lượng đơn vị tính đếm theo cách có lợi cho mình, muốn làm lợi thêm thì cũng mon men đúc tiền kẽm nhanh chóng hơn. Hẳn là từ sinh hoạt trao đổi phồn tạp thu thập từ trên vùng biển, Trần đem áp dụng hình thức khế ước trên toàn quốc, bắt làm chứng in ngón tay (1227, 10 năm sau với chi tiết rõ rệt hơn), và liên tiếp quy định đơn vị chiều dài (1280).

Trên khu vực quyền hành mới, Trần tìm cách tạo thuận lợi cho ưu thế đường thuỷ của mình, vì vậy đã cho đào vét sông ngòi trên vùng Thanh Hoá, châu Diễn xa (1231). Và cũng vì tính chất bao chiếm theo chiều dọc trung châu từ phía biển, Trần phải có cách thức nối liền hai trung tâm: Thiên Trường đất gốc và Thăng Long của vị thế chính thống mới. Đó là việc “lấp các khe kênh”, xây đắp các “con đường” đê ven các sông “từ đầu nguồn đến bờ biển… ngang dọc nhiều không kể xiết” (1248) mà kết quả nhận rõ đầu tiên là mở rộng quyền lực trung ương, dẹp được những vùng cát cứ lẻ tẻ, theo cách hiểu của người xưa diễn giải ý gán cho Trần Thủ Độ: “dùng phép thuật trấn yểm chỗ nào có vượng khí đế vương.” Đê điều của Trần là kết quả của một ý niệm chính trị hơn là một phát kiến điều hành kinh tế. Tuy nhiên với phó sản chính trị đó, chính quyền Đại Việt bắt đầu đặt chức quan Hà đê sứ, với nhiệm vụ canh chừng đường đất lúc đầu, lại chuyển thành một tổ chức điều hành hệ thống trị thuỷ khá hoàn chỉnh, đem lại sung túc một lúc cho trung châu sông Hồng nhưng cũng là một hệ luỵ mãi mãi không rời bỏ được.

Trên đà nối kết đó, Trần đã tiến thêm một bước về tính cách tập quyền trong việc quản lí hành chính địa phương. Đổi số lộ 24 của Lí rút lại còn 12, Trần nhắm vào thực tế cai trị hơn là ảo tưởng biểu diễn ngang tầm nước lớn phương Bắc. Chính Nhân Tông là người nhận ra đất nước mình cai trị chỉ “bé bằng bàn tay!” Trần đưa các văn thần trị nhậm ở các địa phương – ít ra là trong vùng quyền lực của họ, bởi vì về sau, danh xưng đơn vị hành chính đã có phần rõ rệt đi theo với chức năng của chúng. Ta thấy phủ trực tiếp có quan trị nhậm, lộ lơ lửng quyền hành, có người của trung ương phái xuống truyền lệnh, còn châu, ngoài vòng thì chỉ có chức tào vận để chuyển đưa các thứ thu vét được về Thăng Long. Đã có sự dời đổi quan lại giữa các địa phương, từ địa phương về trung ương mang tính huấn luyện thực nghiệm để tăng tiến khả năng cá nhân cùng hiệu quả cai trị. Sự việc một ông Tể tướng như Trần Thủ Độ mà ngồi xét sổ hộ khẩu (trong phạm vi đất đai của ông) tuy có vẻ nhỏ nhặt nhưng từ đó cũng giúp ta hiểu những lệnh lập sổ đinh ban hành từ đầu triều đại đã thực sự đưa quyền lực trung ương đến tận các đơn vị cơ sở. Tên chức việc xã vẫn ở cấp bực quan chức khá cao, đã thuộc về quyền hạn của Trần như chuyện Thái Tông ban chức cho người dâng cơm nguội lúc chạy giặc. Tuy nhiên Lê Tắc (1285) vẫn còn biết các chức đó cũng là của những “hương ấp quan” được quyền “thế tập,” có nghĩa là ngoài những khu vực lớn có người lãnh đạo lưu tên trong sử sách còn có những khu vực nhỏ khuất lấp trong thời gian mà vẫn giữ một chừng mực riêng biệt với chính quyền trung ương. Đã nói đến cái bia 1226 của người họ Đỗ có “ấp thang mộc” sát kinh đô. Hương ấp quan vùng xa càng giữ quyền kế nghiệp lâu dài hơn: Bia chùa Hưng Phúc ở Thanh Hoá cho thấy việc dựng chùa năm 1324 của một dòng truyền đời lâu dài mang họ Lê với chức đại toát, chủ “làng lớn” Lê Bằng đã xây chùa năm 1264 mà hẳn Lê Tắc cũng biết.

Hội nghị Diên Hồng đánh Nguyên là một bằng chứng cụ thể cho thấy Trần Thăng Long vẫn phải cần đến các thủ lãnh địa phương. Và chiến tranh chống Nguyên là cơ hội bằng vàng cho sự kết hợp giữa Miền Trên và Miền Dưới, những người của thời đại cũ mang tâm tình rõ rệt về đất nước họ xuất phát (Lê Văn Hưu, Lê/Trần Bình Trọng) đem một ý thức về lãnh địa cho đám người sông nước bồng bềnh chỉ có nổi bật là tương quan gia đình, chủ tớ. Vị trí của cuộc họp về trước ở bến Bình Than vùng sông nước Chí Linh Lục Đầu, cho thấy đây là tập họp nặng về liên minh vùng biển, trung tâm thế lực của Trần. Trong hội nghị bình công 1289, Nhân Tông đã “xử tội đồ quân dân hai hương Ba Điểm, Bàng Hà” – nghĩa là xoá sổ dân hai hương này, hai hương vốn cũng có tên dưới cờ Trần Quốc Tuấn lúc chuẩn bị chống Nguyên năm 1284. Nhưng Diên Hồng, gộp với danh xưng chung là của “các phụ lão trong nước,” cũng chứng tỏ rằng các thế lực địa phương trên vùng trung châu vẫn chỉ là chủ nhân những địa vực nhỏ. Bàng Hà được Trần Quý Nha tác giả một phần Công dư tiệp kí, tiến sĩ 1748, quan sát thực địa, dẫn Toàn thư xác nhận là quê hương của Mạc Đỉnh Chi, gia thần của Trần Ích Tắc (chuyện năm 1267.) Mối liên hệ đó khiến ta hiểu Bàng Hà hàng Nguyên không phải là vô cớ. Thế màTrần trừng phạt Bàng Hà có vẻ không sít sao như lệnh đưa ra vì lọt Mạc Đỉnh Chi, chắc không phải vì bản thân ông ta giỏi văn chương mà vì thế lực tiềm tàng của dòng họ Mạc. Dấu hiệu muộn màng của địa phương chống đối có nguồn gốc sứ quân là cuộc loạn của Kiểu Hiền, kéo dài đến nửa năm (1239).

Vùng Chí Linh của Mạc lại cũng có thái ấp của Quốc Chẩn, có đất riêng của Trần Phó Duyệt mà Trần Khánh Dư là người nối nghiệp chứng tỏ tương quan cha con dù sử không nói. Ở đây thêm dấu hiệu có mặt Trần Nguyên Đán để ông cháu ngoại Nguyễn Trãi sau này về an hưởng tuổi già. Chính vì cái thế mòn vẹt của địa phương cho nên người họ Mạc đời Lí thì ve bà Thái hậu còn người họ Mạc đời Trần thì chịu khuất làm gia thần. Cũng vậy nếu ta xét trường hợp của Phạm Ngũ Lão, hẳn không phải nghèo khó ngồi ngay giữa đường đan sọt bán (như Phạm Đình Hổ thế kỉ XIX kể) để tình cờ được làm gia thần của Trần Quốc Tuấn. Ông tất là dòng dõi xa đời của họ Phạm nhiều uy quyền trong quá khứ nên mới giàu có đủ để điều hành quân riêng, để sử quan khen “coi của cải như không… tất cả chiến lợi phẩm thu được đều sung vào kho quân (nhà nước),” giàu đủ để con vua lê lết đến chơi “ngồi chung một chiếu” kiếm lợi “đưa tặng vàng bạc,” quên cả sợ tai tiếng, còn phía ông gia thần thì quên cả sợ “Thánh thượng quở.” Còn nói chi đến các lãnh tụ vùng núi ven đồng bằng. Ta gặp họ xuất hiện trong các trận chống Nguyên nhưng cũng do đó chứng tỏ họ còn giữ lãnh địa với quyền lực lớn hơn dân đồng bằng. Họ Hà vùng tây bắc là thông gia với Lí bây giờ cũng còn là một bước cản lớn cho quân Nguyên. Và nổi lên họ Nguyễn phối hợp trên vùng đông bắc. Tính chất riêng biệt rừng núi của họ thể hiện trong danh xưng các chức tước Thượng, hạ trại chủ, Phó trại chủ… Tuy Lê Tắc nói rằng có quan triều đình phái đến quản lí nhưng hẳn tuỳ tình thế mà Thăng Long đã ban các chức ở trung ương cho những thế lực “phương trấn” kia.

Trong quan hệ xã hội, các cá nhân phải tuân thủ quy luật nghiêm ngặt về tầng cấp nhưng sự liên hệ riêng tư chen vào đã làm cho các nguyên tắc trở nên uyển chuyển hơn, và về lâu về dài nó dẫn đến sự phá bỏ nguyên tắc trong thực tế dù rằng còn giữ trên bề mặt vì lí do thể diện. Bản thân hoàng đế là cao nhất dù là nhìn theo quan điểm sắc không của đạo Phật, tôn giáo chủ chốt đương thời: Sư Pháp Loa được tông phái Trúc Lâm coi là tổ thứ hai, thế mà khi thiêu xác Nhân Tông, ông tổ thứ nhất, xương tro ông bị cậu hoàng tử tinh nghịch lấy chơi, triều đình đã ngờ ông sư lấy cắp, định bắt tội! Ông Trần Tung của tầng lớp vương hầu, được tôn xưng cấp bực Thượng sĩ của Phật Giáo mà cứ ăn thịt, còn lấy lẽ biện bác. Chồng của công chúa, dù là hoàng tộc, làm phò mã thì không được bỏ vợ, nếu công chúa chết đi cũng không lấy được vợ khác, lí do chỉ vì công chúa là chính con vua! Có lẽ vì thế mà ông anh vợ Thái Tông không chịu nổi bà vợ, chỉ còn cách bỏ đi tu – lại đi theo một “phe” khác: đạo sĩ! Thân vương ở vị thế tông tộc làm chủ nước nên cũng đứng vào vị trí cao nhất. Vì thế muốn tỏ ra ưu đãi, Trần phải phong vương, đại vương cho các công thần thời chuyển tiếp: Phùng Tá Chu, Phạm Kinh Ân. Con cháu họ Lê cũ thành họ Trần (Bình Trọng) nếu không là trường hợp đặc biệt thì cũng là do ảnh hưởng từ sự xâm lăng của Nguyên. Ngay đến Đỗ Khắc Chung, nếu không xuất sắc nổi bật trong vụ đi gặp Ô Mã Nhi (1285) thì cũng không được mang họ Trần dù rằng khả năng đã chứng tỏ trong những công trạng điều hành việc nước về sau. Thế mà dù tung hoành như một người họ Trần đến mức tưởng mình họ Trần, như trong vụ thông dâm với Huyền Trân, ông vẫn phải tránh né người họ Trần chính thống, lúc chết đi vẫn bị gia nô người chính thống đào mả trả thù. Phạm Ngũ Lão văn võ toàn tài, chỉ được Trần Quốc Tuấn gả con gái nuôi mà thôi, rồi khi luồn lọt đưa con gái vào cung thì rõ ràng bà phi này không được vua ngó ngàng tới, đành phải đi làm bà vãi. Nho thần chỉ là gia thần, với nếp sống thuộc hạ thành thói, thấy chủ nào cũng như chủ nấy nên làm sứ thần qua Chiêm vẫn lạy ông “quốc chủ” cái xứ dưới tay chủ mình. Cho đến khi Đoàn Nhữ Hài, thấm nhuần sự phân biệt Di, Địch trong kinh sử, từ đó ý thức vị trí gia thần có thêm phân biệt nguồn gốc chủng tộc, mới bỏ lạy vua Chiêm – mà lúc đầu thấy không tự tín, phải ranh ma tìm mánh lới thử ý “quốc chủ”: Lạy chiếu vua để né tránh lạy người. Tính chất thuộc hạ của trí thức Việt như thế sẽ còn thấy ảnh hưởng lâu dài về sau.

Gia thần còn là người vì có quy định thế tập chứ quan nô, gia nô không phải là người. Từ bộ phận gốc tù binh, tội phạm, gán nợ… mang tính cách cấp thời, bất thường, nô trở thành một tầng cấp xã hội dưới đáy không thể đổi thay dù có tăng tiến của cải, công tích với triều đại. Họ được đếm như với “hàng ngàn cây quýt” (Thánh Tông.) Họ có khi chỉ mang tên loài vật: Voi Rừng, Cồng Cộc (Tên Yết Kiêu được dẫn từ sách xưa nên hiểu là Chó Săn, nhưng nếu nhìn sinh hoạt sông nước của Trần thì có thể cho tên Cồng Cộc, loại chim nuôi để bắt cá cho chủ trên vùng sông nước Trường Giang, Tây Giang còn thấy ngày nay.) Và lẽ tất nhiên còn một loạt người không quan chức, sống bình thường tương đối tự do, chịu trôi nổi theo tình thế, đóng thuế cho vua quan, lãnh chúa mà người ta goị là bách tính, thứ dân, khuất lấp trong lịch sử chỉ vì là số đông. Lúc mới làm chủ nước, Trần đã ra quy định những người giàu có khoẻ mạnh “đời đời làm lính.” Nhưng có thể vì là số đông, vì khả năng quản lí kém của chính quyền, lớp người này hưởng được một chừng mực tự do trong chính sách buông lỏng mà Lê Tắc gọi là “không trưng thâu lương thuế” nông, thương “để bớt gánh nặng cho dân.” Tuy nhiên với các tài liệu lọc qua sử thần nho gia, ta thật khó thấy được sinh hoạt của tầng lớp thương nhân dù rằng còn hải cảng Vân Đồn đấy, dù rằng có lúc thấy vua mua ngọc rất đắt, mua vải “giặt bằng lửa (một cách thức như dry cleaning ngày nay?)” may áo mà không dám mặc, chỉ cất trong kho khiến một ông thân vương nổi lòng ham muốn đến phải mất mạng…

Nhưng cũng chính số đông đó cùng thực tế đời sống đã làm nảy sinh lệch lạc trong việc áp dụng các nguyên tắc tầng cấp. Vua, như đã nói, quen với lối sống trời rộng sông dài, bực bõ trong cung cấm, đi chơi đêm coi chữa cháy (Thánh Tông) bị bọn vô lại ném đá lỗ đầu (Anh Tông.) Vua gả con mở hội lớn, “bày trò cho nhiều người trong triều ngoài nội đến xem.” Đám tang của nhà vua được dân chúng chen lấn, xúm xít coi như đối với đám ma một ông nhà giàu, phải giở mưu mẹo mới đem được quan tài đi chôn. Tương quan trên dưới nghiêm ngặt như trong lời Hịch tướng sĩ cho thấy lời chủ nói với tớ, kể lể những ơn phúc ban xuống đến cả những thứ tầm thường nhất, cùng những lời trách mắng không được đền đáp cân xứng… Thế mà vua chúa, thân tộc vương hầu trải qua những biến cố đánh động đến an nguy bản thân của mình cũng phải cúi nhìn, quan tâm đến cả lớp nô thường ngày bị coi thường kia.

Biến động từ vùng sa mạc xa…

Họ Trần vào những lúc tranh chấp chiếm quyền trên đất Đại Việt hẳn không ngờ rằng những biến động ở vùng sa mạc xa tít mà họ chỉ nghe thoáng trong văn thơ sáo ngữ lại có ngày tác động đến sự tồn vong của chính họ. Thành Cát Tư Hãn chết (1227) chỉ một năm sau khi Trần chiếm quyền nhưng đã để lại một đế quốc rộng lớn mà con cháu không đủ khả năng quản lí toàn cục, phải chia nhỏ ra nhưng vẫn không giảm sức mạnh tràn lấn. Nam Tống và Mông Cổ phối hợp tiêu diệt nước Kim năm 1234, khiến Tống cuối cùng thành con mồi trực tiếp trước đội quân hùng mạnh của Hốt Tất Liệt, kẻ chỉ huy trực tiếp bộ phận phía đông, sau sẽ thành hoàng đế triều Nguyên của Trung Hoa. Nam Tống tuy yếu ớt nhưng đất rộng, người nhiều không dễ chiếm đóng nên quân Mông Cổ né tránh vùng phía đông, cho quân đánh chiếm vùng thưa thớt người phía tây để hòng tấn công từ phía nam lên. Cho nên năm 1253, Hốt Tất Liệt và Ngột Lương Hợp Thai vượt sông Kim Sa (thượng nguồn Irrawaddi?) đánh chiếm thủ đô nước Đại Lí, khuất phục các tộc thiểu số ở Vân Nam. Họ Trần từ đây đã thấy quân Mông Cổ ở sát nách mình.

Sự suy yếu của nhà Tống cũng như sự thay đổi triều đại ở Đại Việt cũng gây nên những biến động ở biên giới hai nước. Chuyến đi sâu vào đất Tống của Thái Tông (1241) có vẻ như một lần thăm dò lấn đất nhưng các biến động ở vùng sa mạc cũng vọng đến tai Trần nên năm sau họ sai tướng đánh dẹp các toán thiểu số bất phục tùng để lấy lối thông thương, nghĩ có thể trực tiếp nhờ cậy, liên minh với Tống dù sao vẫn còn là nước lớn. Bên trong, Trần tổ chức cai trị trong nước, định hình một nền tảng văn minh, nhất là xây đắp sức mạnh quân sự đúng với tính chất căn bản của dòng họ: “Nếp nhà theo nghề võ… đời đời chuộng dũng cảm” như Nhân Tông dặn con cháu. Lề lối thiết lập sổ đinh kiểm soát nhân lực đã có nếp từ đời Lí nay theo với quyền lực mở rọng của Trần được tổ chức chặt chẽ hơn. Quy chế thành lập các “quân” năm 1246 cho thấy tập trung nòng cốt vào vùng đất căn bản của Trần ở Nam Định, Thái Bình ngày nay với sự góp sức phần lớn ở khu vực miền hạ du. Lính thuộc các đơn vị này, dù là có văn học cũng không được chuyển đổi ra làm quan chỉ vì người ta muốn giữ tính cách ưu tú riêng biệt của chúng. Có thành phần chuyên trách thuỷ chiến vì trong việc thành lập có nói đến loại lính chèo thuyền riêng biệt. Tuy nhiên từ chính việc tập trung vào khu vực nòng cốt này mà ta hiểu ra ý thức tộc đoàn nổi trội hơn ý thức quốc gia của những người cầm quyền lúc bấy giờ. Trong Hịch tướng sĩ chỉ có những lời chủ tướng mắng mỏ người dưới quyền, thúc đẩy họ phục vụ chủ, viện dẫn đến cả lòng trung thành của “tì tướng” Mông Cổ đang đối đầu đe doạ. Ý thức về quốc gia dân tộc riêng biệt chỉ rõ ràng hơn ở những người bây giờ là thuộc hạ nhưng vốn là chủ đất cũ như Lê Văn Hưu, Lê (Trần) Bình Trọng…

Trần cũng phải lo ổn định biên giới phía nam. Chiêm Thành thoát khỏi sự chiếm đóng của quân Chân Lạp từ 1220, phải lo xây dựng đất nước sau một thời gian biến động lâu dài. Jaya Paramesvaravarman II cho làm hệ thống thuỷ lợi, khai khẩn ruộng hoang. Sự hồi phục qua kiến thiết khiến người Chiêm có tự tín hơn, nhân thấy sự tranh giành quyền lực ở Đại Việt đã có ý muốn đòi lại đất cũ. Điều sử cũ ghi rằng Chiêm lấy thuyền nhỏ đến cướp, bắt cóc dân ven biển, có vẻ vốn chỉ là những xung đột biên giới lẻ tẻ của địa phương nhân chính quyền Đại Việt cuối Lí suy yếu nhưng hẳn cũng là gợi ra ước vọng lớn hơn cho chính quyền Vijaya. Dù sao thì Trần khi đã củng cố quyền hành trong nước, thấy mối đe dọa Mông Cổ, cũng phải lo dẹp trước mối nguy tiềm ẩn ở phương nam. Năm 1252, Thái Tông cất quân đánh Chàm, có lẽ giết được Jaya Paramesvaravarman II vì Ngô Sĩ Liên xác nhận chỉ bắt được hoàng hậu Bố Da La và cung phi đem về nước mà không có tên vua Chàm.

Trận thử thách với quân Mông Cổ 1257-58 tuy là nhỏ nhưng cũng cho thấy trước đến những nhược điểm của Mông Cổ các lần sau. Kế hoạch của toán quân Vân Nam là đánh vào Đại Việt với mục đích làm mũi bọc phía nam phối hợp với chiến dịch lớn chiếm Tống của chúa Mông Kha. Quân Ngột Lương Hợp Thai với 5000 người có hai vạn quân Đại Lí phụ trợ, tiếng là đi tiên phong nhưng xét các tiến triển của tính hình chiến trận thì rõ ràng chỉ có quân Mông Cổ là chiến đấu thực sự. Phía Trần tuy lúc đầu lấy thế chủ nước, bắt giam sứ Mông Cổ nhưng cũng chẳng phải là đầy tinh thần tiến công cùng tỏ rõ được sức mạnh của mình.

Ta đã nói chuyện vua Trần bán ruộng của mình lo chạy giặc năm 1254 lúc quân Mông củng cố việc cai trị ở Đại Lí, xong năm 1256 mới tràn xuống nam. Việc Thái Tông lấy vợ của anh khiến nội bộ lục đục còn kéo dài đến trước lúc quân Mông sang, khi Trần Doãn, người bị cướp mẹ, trốn sang Tống mà không thoát. Một người bị cướp mẹ khác (Quốc Tuấn) dù đã ghép làm rể ông vua, vẫn còn có ý nghe lời trối của cha muốn cướp ngôi, thế mà lại được phong chức tiết chế quân đội. Cả đến người hầu cận cũng kịp nhớ mối hận bị mất ăn trái xoài để không chỉ tình hình địch quân cho vua. Cho nên trong trận giáp mặt địch quân, chỉ có vua “thân hành đốc chiến, xông pha tên đạn, ngoảnh trông tả hữu chỉ còn có một người” để bàn bạc mưu sách chống giặc! Sau chiến thắng (1258), Lê Tần, người không phải cùng họ đó được cử làm Thuỷ quân Đại tướng quân, tiếng là chỉ trông coi một bộ phận quân đội nhưng đúng là tư lệnh của thành phần ưu tú nhất, đáng tin cậy nhất của triều đình, lấn phần quyền hành của ông tiết chế Quốc Tuấn không nhiệt thành lắm trong cuộc chiến. Sau này Thái Tông gả người vợ bị ruồng bỏ cho người ấy và cho tên Phụ (nhà) Trần, thật là đền công xứng đáng, chỉ có ông sử quan mang tính chất tuyên huấn mới giở đạo lí ra chê mà thôi.

Tướng chết, kể cả người tôn thất, Thái Tông phải rút khỏi kinh đô, nương vào sông nước mà lẩn trốn. Ông em Trần Nhật Hiệu được hỏi han kế sách thì run sợ, đứng không vững, không biết quân mình chỉ huy ở nơi nào, chỉ bàn chuyện bỏ chạy đầu Tống, đầu phe chiến bại thấy trước. Và cơ nghiệp nhà Trần mới xây dựng, lúc này giữ vững được lại chỉ nhờ cậy nơi con người nhiều tai tiếng với sử quan: Trần Thủ Độ. Và bà vợ, cựu Huệ hậu. Thái độ cương quyết của Trần Thủ Độ và khả năng thuỷ chiến của họ Trần giúp họ đánh thắng đội quân kị binh Mông Cổ chỉ quen trận mạc trên đất liền. Trên đường rút lui về Vân Nam họ lại phải tiêu hao thêm vì nhóm thiểu số họ Hà đón đánh. Lí do sử quan gán cho đạo quân thất bại này danh xưng “giặc Phật” vì họ không cướp phá có vẻ không hợp lí mấy. Có thể là quân lính Mông Cổ cùng quân phụ lực Đại Lí – vương quốc từng có nhiều ông vua bỏ ngôi cạo đầu làm sãi, đã lộ ra dấu hiệu Phật Giáo của mình như: tôn trọng chùa chiền, kính nể sư sãi – như trường hợp Sài Thung ngạo mạn mà vẫn tiếp Trần Quốc Tuấn cạo đầu, mặc áo vải. Các sự việc tương tự có thể gây ngạc nhiên đối với dân chúng Đại Việt cứ tưởng là phải gặp một loại người dã man nào khác.

Trận thắng đầu đối với Mông Cổ được những trận thắng về sau nâng tầm mức quan trọng để sử gia ngày nay không chịu nhận luận cứ sử quan xưa về việc quân Mông không có ý chiếm đóng thực sự. Không ai mang quân qua xứ người mà không có ý cướp lấy. Họ chỉ không lường trước được sự khó khăn trong mục tiêu, và với khả năng của một mũi tiền đạo xa cõi gốc nên không có đủ phương tiện thực hiện mà thôi. Sau này họ sẽ dùng lực lượng lớn hơn nhưng Trần cũng đã lớn mạnh hơn. Và Trần với chiến thắng nhỏ 1258 cũng coi là một khích lệ cho tinh thần quân tướng trong tình thế khó khăn hơn:

Còn có người lính già đầu bạc,

thường hay kể chuyện đời Nguyên Phong (1251- 1258).

(dịch thơ Trần Nhân Tông).

Tuy nhiên quân Mông Cổ đã có mặt ở Vân Nam thì nhà Trần không thể không kể đến họ. Cho nên khi Thái Tông nhường ngôi, báo ý định với Tống và cống voi thì cũng cử Lê Phụ Trần đi sứ Mông Cổ dàn xếp yêu sách với họ. Sự tranh chấp nội bộ của Mông Cổ để chiếm quyền lãnh đạo đã khiến cho Trần có thời gian củng cố lực lượng chờ đón những lấn áp quân sự thực thụ lớn mạnh.

Năm 1260, Hốt Tất Liệt xưng Đế, rồi đổi tên nước là Nguyên (1271), coi như đã rời bỏ một phần quá khứ sa mạc để trở thành một triều đại Trung Hoa, hành xử như một Hoàng đế theo truyền thống Hán đối với các phiên thuộc phía đông, phía nam, thêm tính cách ngang ngược của một lực lượng mới. Cho nên Nguyên chính thức bắt Trần nạp cống lễ ba năm một lần – không phải chỉ vật phẩm mà còn là tinh hoa nhân lực, buộc Đại Việt nhận chức toàn quyền Đạt Lỗ Hoa Xích để kiểm soát công việc trong nước (1262). Người nhận chức đầu tiên là Nậu Lạt Đinh (1262-63). Các toàn quyền này cũng như các sứ thần, tha hồ nhũng nhiễu “thác lệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa… giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng…” (Hịch tướng sĩ) khiến cho họ Trần thấy bị đe dọa không ngớt.

Trần không thể ngồi yên nên đã có lệnh tuyển lính, sắp xếp đội ngũ, lập các đội quân địa phương (1261, 1267), chế tạo vũ khí, chiến thuyền, tập trận trên sông Bạch Hạc, chặn đầu vào của kinh thành từ thượng nguồn. Một năm trước khi chết, Trần Thủ Độ cũng còn đi kinh lí miền Lạng Sơn (1263), một hướng tiến khác của quân địch. Thế nhưng với đòi hỏi vua Trần phải sang chầu, đưa con cháu làm con tin, nạp sổ bộ, phú thuế, quân dịch… (1267) đúng với quy chế dành cho các tập đoàn phụ thuộc ở sa mạc thì Trần thấy bị đẩy lùi đến tận cùng. Phải nhận chức toàn quyền với một người, một số nhóm nhỏ quyền lực thì Trần còn có thể chịu đựng, mua chuộc, cách li để còn giữ một chừng mực độc lập, chứ không thể vì bị đe dọa mà phải buông bỏ hết. Tuy nhiên Trần cũng phải nhường trong chừng mực có thể được vào lúc Hốt Tất Liệt chiếm hết đất Nam Tống (1275-1279), tăng thêm áp lực với sứ giả Lễ bộ Thượng thư Sài Thung hạch hỏi lễ tiết, vặn vẹo lí do Thánh Tông không sang chầu (1279). Và tình thế không cưỡng được đã phát sinh một nạn nhân đầu tiên trong hoàng tộc, và chuyển hướng tâm ý của một danh tướng. Nhân Tông dựa vào điều trước kia (1275) Nguyên hạ yêu sách chỉ đòi con em vào chầu nên cử chú họ là Trần Di Ái sang (1281). Thế là có dịp cho Hốt Tất Liệt chuyển cả sứ bộ thành bộ phận bản xứ quản lí Đại Việt với Di Ái làm An Nam Quốc vương, với Sài Thung mang 1000 quân hộ tống đoàn bảo hộ Ti An Nam tuyên uý (1282). Di Ái trốn về xứ nhưng cách xử trí của Nhân Tông cũng cho thấy sự thông cảm: Nhân viên khác của sứ bộ không bị giết mà chỉ bị làm lính thường, còn Di Ái thì làm lính Thiên Trường, nghĩa là lính-nhà! Ông vua đã hiểu trước tình thế nên gởi đi một ông chú họ chứ không phải chú ruột như Trần Ích Tắc, Trần Nhật Duật hay ít ra là Trần Quang Xưởng khuất lấp hơn. Cho nên sử quan ghi giản dị: “Tháng 4, bọn Trần Di Ái đi sứ về nước.”

Tình thế đưa đến rủi ro cho Trần Di Ái lại là dịp cho một nhân vật hoàng tộc khác chuyển hướng tâm ý, trở thành danh tướng muôn đời trong sử sách. Sài Thung ngang ngược ở sứ quán, chỉ tiếp Trần Quốc Tuấn vì tưởng ông là hoà thượng, nhưng trong lúc chủ tiếp chuyện thì lính của Thung lại lấy mũi tên thọc vào đầu khách đến chảy máu. Kinh nghiệm bản thân bị sứ giả giặc “lăng nhục triều đình… bắt nạt tể phụ” đó sao lại không tác động đến lời Hịch tướng sĩ mắng mỏ “các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn…” để khiến Quốc Tuấn phải quên thù gia đình mà nghĩ đến thù cá nhân, hợp với sự an toàn, tồn vong của cả tông tộc? Tuy nhiên dù là phải chịu đựng quay quắt đến đâu chăng nữa thì Trần cũng chỉ nằm trong tình thế đảo lộn của âm mưu chiến lược lớn hơn từ sự kiện Mông Cổ làm chủ đất Trung Nguyên nhìn ra vùng đại dương với thương thuyền nhộn nhịp từng tạo sự sang cả cho Nam Tống.

Vijaya trong mắt bão biển Đông: biến động nhìn từ phương nam

Lịch sử Trung Hoa có nhà Tống thật là yếu ớt đến tội nghiệp, luôn luôn bị uy hiếp từ phía sa mạc đến phải nộp cống, có rẻo thuộc địa phía nam thoát được độc lập cũng phải vất vả chống đánh, mà chút đất chiếm được cũng phải lần hồi trả lại. Thế nhưng Tống lại là triều đại có văn hoá sáng rỡ với chứng tích ông vua nghệ sĩ chết trong lưu đày (Huy Tông.) Thương nghiệp phát triển đến mức Tống có số lượng tiền đồng đúc thật choáng ngợp chỉ riêng một niên hiệu, thật nhiều đến sinh ra bất tiện phải phát minh hình thức tiền giấy thay thế, khiến cho Đại Việt nhận lãnh tiền đồng dư thừa chạy qua, để vùi chôn trong đất vô số. Sự thịnh vượng đó, Hốt Tất Liệt không thể bỏ qua khi vào Trung nguyên, tiếp giáp các hải cảng phía nam, nơi xuất phát và nhận tiếp thuyền bè buôn bán. Năm 1277, thành lập các ti Thị bạc để thu thuế, năm sau lập tổ chức đại diện trung ương, Hành Trung thư tỉnh, ở Phúc Châu, có thương nhân Ả Rập phụ tá, kêu gọi thuyền bè đến, cho được tự do mua bán, rồi mở rộng lời kêu gọi đến các nước ngoài biển (1280). Đáng chú ý là người Ả Rập kia có gốc gác bám víu ở Chiêm Thành, và chức vụ trông coi hành tỉnh là Toa Đô với vai trò liên tục ảnh hưởng đến sự an nguy của nước này.

Chiêm Thành giữ một vị trí không nhỏ trong dòng buôn bán ở biển Đông. Ngày nay khi mò tìm cổ vật dưới đáy biển thì chỉ thấy thuyền đắm ở dọc bờ Đà Nẵng, Bình Thuận là nhiều. Lê Tắc viết về nước Chiêm Thành cũng chỉ ghi phần trung gian buôn bán: “Lập quốc tại mé biển, thương thuyền Trung Quốc vượt biển đi qua các nước ngoại phiên thường tập trung tại đây để chứa củi, nước, là bến tàu lớn nhất tại phía Nam.” Trong thế kỉ XII, nghĩa là dưới thời Tống, Trung Hoa chuyển sang buôn bán với Java vì các nhóm Thái tràn xuống bán đảo Malacca, gây trở ngại giao thương với Nam Ấn. Hương liệu ở Java lại rẻ hơn nên nhập vào Tống với số lượng lớn.

Các cuộc tranh chấp giữa Chiêm Thành với Đại Việt không phải chỉ vì muốn cướp của, chiếm đất đai mà còn vì cạnh tranh giành quyền bến đỗ nữa. Thế nhưng vai trò làm bến đỗ lại cũng gây nên tình trạng bất an ở vùng này nếu chính quyền không vững vàng. Đã nói, các đồng bằng nhỏ trong vùng không đủ làm căn bản cho một chính quyền vững mạnh lâu dài. Sách Lĩnh ngoại đại đáp nhận xét: Đất đai Chiêm Thành đều là cát trắng, ít đất cày, người dân phải đi tìm hương liệu để sống. Lợi tức vua chúa từ ruộng đất không được nhiều – bia ghi được quyền lấy 1/6 mà chỉ thu 1/10, cho là vua ban ơn mà thật ra là vì không đủ khả năng lấy về. Lợi tức từ thuyền ghé bến không được quá mức độ chịu đựng nhưng dù sao cũng là nguồn thu bù đắp thiếu thốn bên trong. Cho nên Chiêm Thành phải cần giữ an ninh bờ biển, khả năng không đủ thì phải nhờ các tập đoàn thuyền biển khác trợ giúp. Nhưng nếu không đủ sức kềm giữ thì các lực lượng này trở thành những toán cướp biển, nghĩa là Chiêm Thành chứa mối nguy tự bên trong mà trách nhiệm lại quy về mình. Trong quá khứ, các vua Trung Hoa đã từng nhắn bảo trừng trị mà không được. Cho nên nhắm vào Chiêm Thành trên đường ra hải đảo, Hốt Tất Liệt không phải chỉ chiếm đất mà còn là để bảo vệ một vùng an ninh rộng lớn hơn. Đăt riêng một hành tỉnh Chiêm Thành cuối năm 1281 là chứng tỏ mối quan tâm của Hốt Tất Liệt ở vùng này, cho nên khi Toa Đô mắc kẹt ở Vijaya thì việc mượn đường đánh Chiêm của Nguyên không phải chỉ là lời nói dối với Đại Việt.

Sự khéo léo ứng biến với tình thế ngặt nghèo đã dẫn đến thành công nhưng cũng do biến động xảy ra đúng vào dịp Chiêm Thành đang ở trong một tình thế sáng sủa. Tuy vẫn còn những tranh chấp bên trong hoặc giữa các cá nhân, hoặc các tộc đoàn nhưng Vijaya đã tỏ ra là điểm tập trung quyền lực cao nhất của những ai ngự trị nơi ấy. Sứ đi Đại Việt, đi Trung Quốc từ Vijaya là với tên Chiêm Thành đại diện cho toàn bộ đất nước đối với bên ngoài. Kinh đô được Nguyên sử của nhà nước ghi là Đại Châu, ý nghĩa cao hơn danh xưng Tân Châu của Triệu Nhữ Quát (Chư phiên chí 1225.) Lối vào kinh đô mang tên của nước: Chiêm Thành cảng, là Sri Banoi hay Vinaya của bản xứ, Thi Lị Bì Nại thời Lí, Tì Ni thời Trần, cửa Nước Mặn thời chúa Nguyễn và Kẻ Thử / Cách Thử của dân chúng. Trong những lần cho sứ sang Nguyên cầu thân, cống voi, né tránh va chạm trực tiếp, Indravarman V (1266-1285?) cho thấy danh hiệu mình là “vị chúa tể của đất đai rộng lớn… vua của Champa” (1280). Gọi là “đất đai rộng lớn” hẳn vì ngoài quyền hành trên các đồng bằng, Chiêm Thành đã lấn sâu vào trong nội địa với châu Thượng nguyên, có dân “mọi” Kiratas, chứng cớ nơi một số tháp Chàm Yang Prong, Yang Mum còn thấy ngày nay.

Với vị trí cần thiết của Chiêm Thành trong toan tính chiến lược của Hốt Tất Liệt như thế nên Nguyên không cần đề cập đến chức vụ Đạt Lỗ Hoa Xích như với Đại Việt mà đòi thẳng vua Chiêm sang chầu và buộc cung cấp lương thực cho đoàn quân dự định đánh vùng hải đảo (đầu 1282.) Tất nhiên là chiến tranh phải xảy ra. Giữa năm 1282, Toa Đô được cấp 5000 quân, 100 hải thuyền, 250 chiến thuyền chuẩn bị viễn chinh. Nguyên cũng sai sứ sang Đại Việt đòi mượn đường chuyển quân, buộc cung cấp lính tráng, lương thực. Thế là Chiêm Thành phải lo đối phó. Trên đất liền, đường lên kinh đô, họ đã xây dựng thành gỗ, bố trí máy bắn đá để chống cự quân đổ bộ. Trong tình thế như vậy thì họ chận bắt toán người Nguyên ghé lại trên đất họ cũng là thường tình, dù biết hay không biết đó là sứ bộ đi ra vùng hải đảo chứ không phải quân lính đánh chiếm. Cuối năm 1282, Toa Đô xuất quân đến Chiêm Thành cảng, đặt chân trên đất liền, đưa sứ phủ dụ rồi tấn công.

Diện mạo vùng biển cảng Chiêm Thành không phải như ngày nay bởi vì đã có sự bồi đắp cùng tác động địa chấn làm lấp cảng, khiến cho vùng núi (đảo) phía đông nam mà quân Nguyên thấy, nay đã dính vào đất liền. Vì thế bất cứ tác giả nào khi bàn đến các trận chiến với người Chàm ở nơi này, đều sai lạc mà không biết. Con sông lớn chảy qua Vijaya có nhánh đi thẳng ra biển ở chỗ gọi là Chiêm Thành cảng nhưng cũng có các phân lưu đi xuống phía nam, hợp với chi tiết tả ở sách xưa: “Cửa cảng phía bắc liền với biển, bên cạnh có 5 cảng nhỏ, thông với Đại Châu của nước ấy, phía đông nam có núi ngăn…” Toa Đô phá được thành gỗ, tiến lên Vijaya, có lẽ theo đường nước chính của các thương thuyền mà dấu vết thương điếm còn thấy ngày nay là Nước Mặn, Cảnh Hàng (có mặt là “Canh Hãn” trên bản đồ Đàng Trong 1774), Đập Đá, rồi chiếm thành đô (19-2-1283).

Tuy nhiên Toa Đô đã không thu được kết quả chủ yếu: bắt quốc chủ Chiêm Thành. Điều này thật là quan trọng trong việc kết thúc cuộc chiến xưa mà các sử gia chịu ảnh hưởng của thuyết chiến tranh nhân dân ngày nay thường dễ dàng bỏ qua. Trong trận chiến 1258, tướng của Ngột Lương Hợp Thai vì bắt không được Thái Tông mà phải tự tử chỉ vì đó là dấu hiệu chưa kết thúc cuộc chiến. Toa Đô biết rõ khả năng của mình. Uy thế đoàn quân chiến thắng của Mông Cổ có làm cho người ta khiếp sợ nhưng 5000 quân dưới quyền (chi tiết rõ ràng trong sự phân phối các đạo tấn công) chỉ đủ để chiếm một thành, không đủ để chiếm một nước, huống chi đó không phải là lực lượng lấy của sa mạc mà là dân lính đầu hàng cũ, mới từ nhà Tống. Với lực lượng đó mà Toa Đô còn tách riêng sai hai tướng đi chiêu dụ Chân Lạp thì nhóm này không trở về cũng là phải. Với số còn lại, Toa Đô hi vọng đủ làm áp lực để Chiêm phải đầu hàng, vì thế mới có những trao đổi sứ vụ qua lại trong tháng 2, tháng 3-1283 mà người nay theo tinh thần “chống xâm lăng” sẵn có, thấy ra đó là âm mưu hoà hoãn để đợi cơ hội chống trả đi đến thành công. Thật ra lấy suy nghĩ bình thường ra mà xét thì giai đoạn này cũng chỉ là sự tiến triển của chiến tranh, trong đó phía Toa Đô mong bắt được vua Chiêm đầu hàng với ít tổn thất nhất, phía Chiêm cũng nhắm xem với tình thế nào thì có thể chấp nhận được. Nhưng đòi hỏi của Toa Đô theo chính sách chung của Nguyên chỉ dẫn đến bước đường cùng của Chiêm nên họ phải kháng cự lại tuy phía họ cũng có những dao động phản bội ngầm hoặc đã bị phát hiện khiến Chiêm phải giết toán người Tống bỏ xứ đến trú ngụ. Điều này cũng không phải là vu khống vô cớ vì về sau thấy có người chỉ điểm cho Toa Đô. Sự dao động của người lưu vong nằm ngay chính bản thân của họ đã được chứng thực cả ở Đại Việt trong chính cuộc chiến này.

Toa Đô không dễ dàng ngây thơ tin tưởng hoàn toàn vào viên sứ xưng là cậu của vua Chiêm để người này lừa gạt liên tiếp mà không phản ứng gì. Ông này đã lập công, đem những chức quyền, người trong tông tộc Chiêm đến đầu hàng, rồi không phải không có những hành động đáng nghi, là dựa vào tình thế chông chênh để phục vụ cho riêng mình khi làm môi giới đầu hàng mà đồng thời cũng bày vẽ kế hoạch đánh chiếm vùng “Cựu Châu” phía bắc. Đã có những “tể thần” đi theo Toa Đô ra bắc bị quân Việt bắt hơn 30 người, được trao trả về Chiêm giữa năm 1285. Còn người hùng phía trận tuyến của Chiêm thường được chỉ rõ là Hoàng tử Harijit sẽ lên ngôi (1285?) với tôn hiệu Jaya Shinhavarman (IV), tên quen thuộc với người Việt là Chế Mân.

Rốt cục thương thuyết giằng co không xong, Toa Đô nhờ người Tống chỉ dẫn, biết căn cứ mới của Chiêm là ở núi Nha Hầu (Ia -?) phía bắc Vijaya nên sai tướng tấn công. Không rõ tiếp viện của Đại Việt có đến hay không nhưng nơi vị trí cố thủ sâu trong rừng của Chiêm đã tập trung một lực lượng lớn nên cánh quân Nguyên chỉ thành công lúc đầu mà cuối cùng phải “liều chết cố đánh mới thoát được về doanh trại.” Những toan tính tiếp viện từ trong nước giữa năm 1283 với số lượng quân gấp ba lần trước chứng tỏ Hốt Tất Liệt thấy rõ sự sai lầm lúc đầu của mình. Tuy nhiên lại cũng sai lầm chiến thuật tiếp theo là lực lượng này không mượn được đường Đại Việt, phía thuỷ gặp khó khăn nên khi đến Vijaya (tháng 4-1284) không phối hợp được với Toa Đô, lúc này không chờ được đã dẫn quân về phía bắc, đánh chiếm các vùng Ô, Rí giáp giới Đại Việt. Chiếm nước không được nhưng Toa Đô cũng đã chiếm được đất Chiêm, đúng vào vị trí uy hiếp Đại Việt trong mưu tính chiếm Đại Việt như trong lời tâu với Hốt Tất Liệt cuối năm 1284. Nhân Tông khen ngợi thương tiếc khi thấy đầu Toa Đô cũng là biết nhận xét người vậy.

Chiến dịch vào Đại Việt 1285 được tổ chức rất kĩ, với người cầm đầu là Thái tử Thoát Hoan mang theo một lực lượng rất lớn, do không phải chỉ vì Đại Việt mà vì cả Đông Nam Á như một phần sự thật trong lời Thoát Hoan nhắn với vua Trần: “Sở dĩ dấy quân là vì Chiêm Thành, không phải vì An Nam.” Tuy nhiên “An Nam” cũng đã chuẩn bị tiếp đón quân Nguyên từ lâu.

Gần 20 năm đã trôi qua từ trận chiến tranh trước. Đất nước được nâng cấp ngay từ tầng lớp lãnh đạo. Thái Tông bị sử quan chê “chưa có học thức” nhưng đến đời con thì vua đã biết tự làm thơ, viết sách dạy con cháu, các hoàng tử thông hiểu kinh sử, đến như Trần Ích Tắc ở thế phản bội mà vẫn được sử quan dành cho những lời thật nể trọng: “thông minh, hiếu học… không nghề gì không tinh thạo… tập họp văn sĩ bốn phương… đào tạo thành tài… dùng cho đời.” Cho đến khi phải giải thích sự phản bội của ông, sử quan cũng không bỏ lời khen tụng “thần nhân ba mắt tự trên trời sai xuống… thông minh hơn người.” Trong tộc Trần chỉ một mình Ích Tắc đúc tiền riêng cho mình còn thấy đến ngày nay ở các sưu tập. Ông là cả một thế lực tự thấy đủ để tranh giành với các anh em khác. Tuy có mâu thuẫn gia tộc nhiều – giấu kín như trường hợp trị tội Trần Lão “làm thư nặc danh phỉ báng ‘nhà nước’ – vua: Nhân Tông,” công khai như Trần Kiện với Trần Đức Việp, dẫn đến việc đầu hàng quân Nguyên nhưng chính các biến động lại cũng làm cho họ Trần cố kết với nhau hơn. Đó là trường hợp Trần Quốc Tuấn có mối thù cướp mẹ, chịu hoà hoãn với Trần Quang Khải, với Nhân Tông, được phong làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh quân đội toàn quốc.

Ý thức của sử quan đương thời (Lê Văn Hưu), tuy còn qua hình ảnh một ông vua, nhưng cũng lộ rõ mối ưu tư về một nước riêng biệt phải được yêu quý, gìn giữ trong những lời cảm thán về vận nước, những lời ca tụng đầy xúc cảm về các nhân vật lịch sử trên đất của mình sống, coi tất cả như cùng một thân tộc mà không màng đến những khác biệt xuất xứ. Cho nên người khác họ, Lê (Trần) Bình Trọng đã thấy mình là người “nước Nam.” Người cùng họ mà khác tập đoàn, Trần Khánh Dư , quên mối thù vua bênh Quốc Tuấn sai đánh chết, lại trở về phục vụ Thăng Long. Cho nên các tập đoàn riêng rẽ khi được triệu tập ở thềm điện Diên Hồng ngay trước khi quân Nguyên vào cõi (cuối 1284) đã đồng lòng quyết đánh. Cũng nên kể đến một lực lượng ngoài cõi, vì tình thế mất nước phải phối hợp với quân Đại Việt. Đó là dân, binh người Tống nổi bật dưới cờ Trần Nhật Duật mang tính chất tác động tâm lí chiến, uy hiếp tinh thần các cựu binh Tống trong hàng ngũ Mông Cổ. Và đó cũng là những di dân có tác động văn hoá thương mại mạnh trên vùng đất họ đến nương nhờ, tác động thường bị lãng quên, chỉ mới được một số học giả thoáng thấy gần đây với các phát hiện khảo cổ học dưới nước, trên đất về các đồ sành sứ lưu thông.

Tuy nhiên lực lượng chính cũng vẫn là của vùng sông nước, đất căn bản của họ Trần. Hội nghị ở Bình Than, vùng tiếp nước của hệ thống sông Thái Bình, ở đất riêng của một nhóm họ Trần (vũng Trần Xá), là nơi hội họp của “vương hầu và trăm quan,” của bộ phận kinh đô phối hợp đi xuống vùng sông nước. Quân tụ hội nhiều ở Vạn Kiếp dưới trướng Trần Quốc Tuấn và các con trước khi vỡ chạy thoát theo đường thuỷ, phần lớn cũng là của vùng đồng, biển trong đó có tên hai hương Bàng Hà, Ba Điểm hàng giặc bị đặc biệt nêu tên xoá sổ khi thành công. Có cả “một hòm biểu xin hàng” quân Nguyên, bắt được sau chiến tranh mà vua Trần sai đốt đi cho đỡ phát sinh rắc rối. Cũng đầu hàng là các tông thất yếu đuối hay bất mãn gặp được cơ hội thoát thân. Cánh quân Toa Đô kéo ra từ đất Chiêm thu phục quân Trần Kiện, lấn áp Trần Quang Khải, chiếm Thanh Nghệ càng làm áp lực nặng nề hơn. Nhưng rốt cục hai vua Trần rời bỏ kinh thành để lấy thế chuẩn bị phản công. Di chuyển linh động bằng thuyền giúp hai vua Trần thoát tay giặc, vào được Thanh Hoá sau lưng Toa Đô, lập căn cứ chống trả ngay trên đất địch quân vừa tràn qua. Di chuyển theo thuyền bè khiến cho binh tướng Trần có cơ hội đánh giặc mà không phải giữ đất như khi Trần Hưng Đạo thua ở Vạn Kiếp rồi cũng trở lại đó với lực lượng lớn. Cho nên cuối cùng những trận thắng quyết định cũng là trên bờ sông nước: Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Vạn Kiếp, rồi Tây Kết. Những trận thắng trên đường Nguyên rút quân với các thủ lĩnh địa phương giữ đất mình có thể coi như trả thù cho những thất bại khi bị tấn công. Thoát Hoan rút khỏi Thăng Long (10-6-1285) bị chận đánh trên đường về, tướng chết binh tan, còn Toa Đô chậm chân bị giết chỉ có Ô Mã Nhi thoát trên một chiếc thuyền để lần sau quay trở lại đối đầu với số mệnh của người chiến binh. Thế là quân Nguyên qua Đại Việt có hơn nửa năm, kết thúc trận bại chiến lần thứ hai.

Cuộc chiến ở Đại Việt vì liên hệ với đất Chiêm Thành nên sự kết thúc ở đây cũng giải toả được áp lực cho vùng đất phía nam. Các toán quân còn lại ở đấy cũng được lệnh rút lui để Hốt Tất Liệt chuyên chú vào trận báo thù tiếp theo, thực hiện chỉ một mũi nhọn đi thẳng chiếm đất, gọn ghẽ hơn.

Hốt Tất Liệt “gác việc (đánh) Nhật Bản, chuyên việc Giao Chỉ,” cho quân viễn chinh Đại Việt về được nghỉ ngơi, đồng thời ra lệnh bổ sung quân số cho Thoát Hoan. Công cuộc tiến đánh do đó được chuẩn bị ráo riết trong năm 1286 kéo dài qua năm 1287. Quân số lớn đã đành mà lần này còn chú trọng đến quân thuỷ nhiều vì kinh nghiệm đã thấy sự quan trọng của thuỷ chiến ở lần trước. Quân đi, không phải mượn đường đến Chiêm Thành mà là chiếm đóng nên có cả một bộ máy hành chính của người Việt đầu hàng được xếp đặt sẵn cho những người quản lí đến tận phủ, lộ. Trần muốn hoà hoãn đã thả tù binh, sai sứ cầu hoà nhưng đều bị giữ lại. Thế là Trần cũng phải chuẩn bị chiến đấu tiếp.

Quân Nguyên vừa rút lui, Nhân Tông đã cho kiểm tra dân đinh để nắm rõ tình hình hao hụt, thực trạng trong nước, và trong năm 1286 có lệnh tuyển binh, chế tạo vũ khí, thuyền bè, diễn tập quân lính. Tiền đồn đã được đẩy ra xa phía biển: Vân Đồn không chỉ là một cảng khẩu mà còn là một căn cứ quân sự giao cho ông tướng Trần Khánh Dư “gà chó đều sợ.” Trần Quốc Tuấn bây giờ đã là cột trụ tin cậy của nhà nước nên lời ông được nêu như ý chí vững tin ở ngày chiến thắng: “Năm nay đánh giặc nhàn.” Tuy nhiên lí lẽ đưa ra cũng phải được thực tế thử thách. Và lại thấy ưu thế thuỷ chiến của Trần. Chiến tranh chuyển trọng tâm về mặt biển nên những trận đánh dữ dội là ở phía này. Thoát Hoan tiến chiếm Vạn Kiếp rồi cùng các quân khác vào Thăng Long đầu tháng 2-1288. Sức mạnh quân thuỷ của Nguyên còn thấy rõ ở việc Ô Mã Nhi rượt đuổi vua Trần và trong chuyến đi đón lương tiếp tế trên suốt con đường từ Thăng Long xuống biển. Nhu cầu quân lương thật lớn vì quân số nhiều, có cướp bóc tại chỗ cũng không đủ. Không bắt được vua Trần đã là một thất bại chiến lược, mà việc chiếm được kinh đô cũng mất giá trị vì Trần Khánh Dư đã sử dụng đắc thế vị trí tiền đồn được giao phó để đánh chìm cả đoàn thuyền tiếp tế của Trương Văn Hổ, giáng ngón đòn quyết định xuống cả cuộc chiến. Thoát Hoan chỉ còn cách kiếm đường rút lui. Hai cánh quân thuỷ bộ đều bị chận đánh nhưng với ưu thế thuỷ chiến của quân Trần thì trận thắng vang dội để lại sử sách là trận Bạch Đằng (9-4-1288) bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp.

Trong cả ba cuộc chiến, quân Nguyên đại bại trên đất Việt, điều đó thật đã rõ không cần phải tranh cãi. Nhưng nếu có tranh luận thì chỉ nên lấy lời của kẻ trong cuộc chứ không phải của người về sau khi kết quả đã thấy rõ. Quân binh Mông Cổ không phải chỉ bại riêng ở Chiêm Thành, Đại Việt (nhất là Đại Việt) như người ta thường ca tụng. Sức mạnh nào thì cũng phải có cuối đường của nó. Phía tây, Mông Cổ bị chận ở Trung Âu, phía biển đông, Mông Cổ (trở thành Nguyên) thất bại ở Nhật Bản, và quân đến Java phía nam thì không thấy tuyên dương ngày về. Chỉ vì khi bành trướng, Mông Cổ phải mượn lực lượng địa phương phụ giúp, sức mạnh nguyên thuỷ không còn nữa. Đánh Chiêm Thành, Đại Việt phần lớn quân là quân dân Tống cũ (bắc), mới (nam), không có ý chí chiến đấu như trường hợp ở trận chiến 1285, lớp quân này hoảng hốt khi gặp quân Tống dưới quyền Trần Nhật Duật. Trương Hiển “bội phản” Toa Đô về hàng Trần. Quân nhiều tốn lương mà lại ô hợp như Trần Quốc Tuấn chê, lại trở thành gánh nặng cho Thoát Hoan. Đất đai chật hẹp không đủ chỗ cho kị binh Mông Cổ thiết lập “trường trận” để tung hoành. Lại cũng không thể trì trậm tổ chức chiếm đóng như Trần Quốc Tuấn lo lắng, chỉ vì quân phương Bắc vốn không chịu nổi thuỷ thổ phương nam như các chứng cớ ngay ở triều đình họ về trước. Quân sa mạc lại theo truyền thống đóng bên ngoài các thành trì nước địch – một dấu hiệu không thích ứng khác, nên ảnh hưởng bất lợi của khí hậu còn đậm thêm. Không ai có thể phán đoán tình hình chính xác một cách dè dặt như viên tướng nắm vận mệnh triều Trần, Trần Quốc Tuấn, người được chính sử Việt nghe rằng “giặc Bắc… thường gọi ông là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi tên,” và khi chết đi trở thành ông thần trừ tai dịch. Những lời phát ra khi chiến trận đang sôi động thì phải thật là cương quyết, nhưng khi trả lời vua trên giường bệnh thì thật cân nhắc, tính toán, có dành ẩn số may rủi cho tương lai như trong lời trối bảo san bằng mả để người sau (Nguyên!) không biết chỗ nào mà đào báo thù.

Mối lo đó không phải chỉ là của Trần Quốc Tuấn mà còn tác động đến cả tông tộc Trần. Dù thắng trận, Trần cũng trải nghiệm được sức mạnh của đối phương do đó đã trở nên nhẫn nhịn hơn một khi thấy đó là cách tránh được nạn binh đao, như cách thức bày tỏ qua lại trong chuyến tiếp sứ thần Trương Lập Đạo của Nguyên (1291). Nhưng cũng vì tư thế ép mình thấp hơn nhiều so với thời Lê, Lí giao tiếp với Tống mà hình thành một mối tương quan phiên thuộc Thiên triều thấp kém về phía nước nhỏ càng lúc càng được biện minh để tự coi là một hình thức ngoại giao khôn ngoan cho mãi đến bây giờ.

Nhưng rốt lại cuộc chiến dữ dội đã đem lại kết quả vượt quá ngoài toan tính của người thắng trận. Đất nước Trần trở nên thống nhất hơn, các địa phương tan nát hoặc bị san bằng dưới chân các toán quân đi qua sẽ đầu phục vào lực lượng chủ yếu ở Thăng Long. Tinh thần riêng biệt “Đại Việt” trở nên đậm nét hơn, như lời hãnh diện của người gia thần được nâng cấp thành sứ thần, Nguyễn Đại Phạp, bài bác ông chủ vương hầu cũ: Trần Ích Tắc. Bản đồ bên trong Đại Việt phải vẽ lại sau chiến tranh. Không có chứng cớ nào rõ hơn với trường hợp xứ Bàng Hà của họ Mạc: Tụ tập dưới quyền Trần Quốc Tuấn để chống giặc nhưng lại hàng giặc, sau chiến tranh cùng với hương Ba Điểm, bị đày cả “quân, dân” mà vẫn còn sót lại ông trạng Mạc Đỉnh Chi phục vụ triều đình, và có vẻ cũng còn con cháu sẽ tung hoành “phản bội” hay phục vụ “chính nghĩa” về sau.

Thời hậu chiến

Mục đích kiểm soát vùng biển Đông Nam Á chưa đạt thì cuộc chiến trên bộ phía nam của Nguyên chưa kết thúc. Nó chỉ bị bãi bỏ khi người chủ trương, Hốt Tất Liệt – Nguyên Thế Tổ, mất đi (1294). Và thời gian giữa đó là những trao đổi giao tiếp sứ thần, thanh toán những tồn đọng của cuộc chiến trước, mỗi bên hi vọng đạt được mục đích của mình mà không phải dấy động can qua. Trần lại tiếp tục xưng thần, chịu làm phiên thuộc, miễn là không phải bị chiếm đóng. Chiêm Thành cũng vậy. Tuy nhiên các cuộc chuẩn bị Nam chinh của Nguyên cùng những chuyến họ tung ra ngoài hải đảo năm 1292 vẫn khiến hai nước Việt Chiêm phải lo đề phòng. Và như thế thì phải khai thác sự liên minh có sẵn.

Mục đích chính trị chiến lược của Trần Nhân Tông chỉ được sử quan nho gia sau này nhìn theo khía cạnh kiêu căng tộc đoàn nên chúng ta bây giờ chỉ biết qua việc hôn nhân của Công chúa Huyền Trân và Chế Mân (1306). Nhân Tông đã sang Chiêm Thành từ tháng 3âl. đến tháng 11 (1301). Ngày tháng đi, về cho ta đoán là đã theo thuyền, phương tiện quen thuộc của tông tộc nương theo quy luật gió mùa trong vùng. Tuy nhiên nên chú ý đến hai chữ “vân du” dành cho ý nghĩa chuyến đi: Nhân Tông đã sang nước khác dưới lốt một hoà thượng để làm việc giao ước.

Tôn giáo đã làm cho con người liên kết, nhận ra nhau trong cả trường hợp đối địch, xung khắc nhất như đã thấy lúc Sài Thung tiếp Trần Quốc Tuấn. Và bây giờ Nhân Tông với tư cách Đệ nhất tổ của một phái Phật Giáo, phái Yên Tử, qua một nước đang là đồng minh hẳn còn có nhiều thuận lợi hơn. Dấu hiệu Phật Giáo của Trần đã thấy ở đầu đời, lúc Trần Thừa sai đắp tượng Phật để thờ trong các đình trạm nghỉ mát (1231) – một việc không ngờ lại phát triển theo với thời gian thành một sinh hoạt phồn tạp ở đơn vị hành chính cơ sở Đại Việt. Phật tử Thái Tông không chịu lấy chị dâu, bỏ kinh thành lên chùa. Bản quyền Khoá hư lục được chấp nhận gán cho ông nhưng vẫn phải gây nghi ngờ vì sự thông thái của nó, không hợp với lời nhận xét của sử quan, rằng ông nên người vì nhờ “tư chất tốt đẹp trời phú cho (chứ) chưa có học thức.” Không thấy con ông, Thánh Tông có dấu hiệu sùng mộ đến mức bỏ đi tu như ông vua tiếp. Tôn giáo đẩy con người vượt lên trên vị trí trần thế của mình thì cũng khiến cho kẻ cầm quyền nhận ra có thể dựa vào nó để đề cao tính chất ưu tú của tông tộc. Vì thế Lí Cao Tông mới xưng là Phật, hơi vụng về của buổi khởi đầu thu nạp còn Trần Nhân Tông trí thức hơn, chứng tỏ nơi các kinh sách sáng tác, thì để tôn xưng là Giác Hoàng Điều Ngự – danh xưng tập họp hai thế lực tôn giáo (Phật) và trần thế (Vua) như cách ông lên Yên Tử mà có nữ quan và cung nữ theo hầu!

Kết quả tàn huỷ của chiến tranh phát sinh tình trạng “đói to” của các năm 1290, 1291, (rồi 1301) “dân nhiều người bán ruộng đất, bán con trai con gái làm nô tì cho người, giá một quan tiền” – bằng ba thăng gạo! Tình hình khốn đốn đó khiến một lần ông vua phải than với sứ Nguyên Trương Lập Đạo (1292), cộng thêm kinh nghiệm điêu đứng của bản thân trong cõi nhân sinh hẳn cũng tác động đến ý thức tu tập của Nhân Tông. Ông vua làm gương cho mọi người, thế là sứ thần Nguyên thì thấy người dân cạo trọc đầu còn nho sĩ trong nước thì than không ai nghe đạo Thánh của mình! Ý thức tôn giáo bao trùm và thân cận như thế hẳn giúp Trúc Lâm Đại sĩ với đệ tử ê a kinh tạng, dễ dàng đi vào đất Chiêm hơn là với vai trò của ông chủ nước Nhân Tông mang quân lính giáo mác theo. Và cảng Tì Ni không còn phải lo đề phòng quân Nguyên nữa nên dễ dàng đón Nhân Tông.

Tôn giáo chính của Chiêm là phái Siva nhưng cũng thờ đủ Tam thần của Ấn Độ Giáo. Đã thấy những nhóm thương nhân Hồi Giáo tụ tập trên vùng Panduranga từ thế kỉ XI nhưng có vẻ chưa phát triển lắm vì đã gây mầm cát cứ dẫn đến đánh dẹp như ta đã thấy. Phật Giáo có mức độ chính thức và di tích để lại không xa thời lập quốc, ở trung tâm Đồng Dương (Quảng Nam) trong thế kỉ X, còn vương triều Vijaya thì vẫn có dấu hiệu triết lí Đại thừa được thấu hiểu trong vương hiệu, trên bia tượng ở thế kỉ XII. Vua Trần cũng không nề hà chuyện bùa chú để cho ý niệm Phật-Vương (Buddha-raja) không xa rời ý niệm Thiên-Vương (Deva-raja). Thế là đủ có một chừng mực hoà hợp vượt lên trên các mâu thuẫn cung đình. Cho nên đồ án văn hình mây xuất hiện trên các trang trí ở tháp Mắm, con rồng Trần thấy ở tháp Hưng Thạnh (Quy Nhơn) và thật rõ rệt là ba chốt gạch mang chữ Hán “trần” mới tìm thấy (2004, 2006) ở Mĩ Sơn. Giống như chữ “Trần” trên các đồng tiền, chỉ danh tông tộc tôn quý của Đại Việt ở đây cho thấy đó là chứng cớ sót lại về một thứ công quả của Nhân Tông đóng góp vào Thánh địa trên đường vân du.

Áp lực của Nguyên tuy đã nhẹ đi sau cái chết của Hốt Tất Liệt nhưng phải có một thời gian mới tác động đến Đại Việt cho nên các phe yếu vẫn phải tìm cách thế liên minh. Nhân Tông thuộc thế hệ chiến tranh nên thấy hôn ước với Chiêm Thành là cần thiết. Người kế nghiệp lại thuộc vào một thế hệ khác, mang tâm tình và những mối lo toan khác, tuy cũng có lúc những vấn đề cũ bất chợt lại nổi lên làm phức tạp thêm tình hình mới. Cho nên việc thực hiện hôn ước đã phải kéo dài đến 5 năm, phải qua sự nhắc nhở phía Chiêm Thành (1305), chắc không phải vì ham gái Việt mà cũng vì lo cho sự an toàn của xứ sở mình. Hôn ước bị cản trở thêm bởi vì với thời gian, lớp nho sĩ tuy còn nằm ở địa vị gia thần nhưng cũng đã ngoi lên trong thứ bậc triều đình, đông đúc hơn. Họ gồm nhiều nguồn gốc nhưng phần lớn lúc đầu là dòng dõi công thần, tiểu thủ lĩnh đời Lí, nấp làm gia thần của tông tộc triều mới tuy vốn ít học nhưng đã cố vươn lên trong lãnh vực trí thức cho xứng địa vị trọng quý nên nuôi người, mở khoa thi thu nạp nhân tài. Đó là trường hợp trạng nguyên Bạch Liêu của triều đình mà làm “môn khách” cho Trần Quang Khải, trường hợp Mạc Đỉnh Chi với Trần Ích Tắc, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu… với Trần Quốc Tuấn; đó là “tên biên chép” (“thư nhi”) của Trần Quang Xưởng sẽ làm sứ thần đi Nguyên… Họ đã có tiếng nói trong triều, có điều chỉ vừa đủ để được chú ý nhưng vẫn không đủ mang tính quyết định.

Đỗ Khắc Chung được mang họ Trần, làm hành khiển, ngang tàng hơn nhưng vẫn vướng víu quá khứ khi suy giảm uy thế. Đoàn Nhữ Hài đội sớ xin tội cho ông vua con, mang uy thế sứ thần đến Chiêm, dựa vào vua đời nay mà hặc tội ông công thần Trần Khánh Dư ngang tàng của vua trước. Ý niệm thánh giáo học được trong kinh sách về tính cách vương hoá khiến cho nho sĩ Đại Việt phát sinh ý thức tự tôn, bắt đầu khinh miệt các nước yếu thế, các tập đoàn nhỏ chung quanh – khinh miệt không phải cho là căn cứ vào sức mạnh mà là dựa thế “văn minh” hơn. Cho nên hôn ước Huyền Trân phải chậm lại. “Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người mượn chuyện vua Hán gả Chiêu Quân cho Hung Nô, làm thơ quốc ngữ để châm biếm việc đó.” Sự mù quáng với kinh sách đã được chứng thực lần đầu với nho sĩ Việt Nam: Họ không biết rằng Hán gả Chiêu Quân vì yếu thế chứ không phải là ban phát ơn huệ. Rốt cục đối với việc gả Huyền Trân uy thế tông tộc Trần vẫn phải mang tính quyết định: “Các quan trong triều cho là không nên” nhưng người tán thành là Trần Đạo Tái, con của Đại Vương / Tướng quốc Trần Quang Khải, và Trần Khắc Chung, một nho sĩ đã trở thành Trần.

Dù sao thì một ngày trong năm 1306, Huyền Trân cũng về với Chế Mân, đổi thêm được hai châu Ô, Lí như thêm một lí lẽ lấn át sự tự tôn của nho gia. Mảnh đất từ biên giới kéo dài đến Quảng Nam ngày nay tuy còn nằm trong vòng tranh chấp mà ưu thế đang thuộc về Trần – và một phần sau này có lúc trở lại với Chiêm, nhưng Trần đã có quy định mua bán ruộng đất phải có giấy tờ chứng tá kí tên, thì việc chiếm đất bằng hôn ước hẳn là đáng chấp nhận, vì có tính cách công khai chính thức hơn là cứ xua quân lấn chiếm.

Năm sau (1307), Chế Mân chết, Trần sợ Huyền Trân bị đốt theo nên sai người cướp về. Kẻ thi hành phận sự tuy lãnh trách nhiệm vì thấy mình là người tán thành hôn ước nhưng rõ là việc gian nan đó không có ai khác chịu kê vai gánh lấy. Trần Khắc Chung biết điều ấy nên dẫn Huyền Trân loanh quanh trên biển mà không sợ ai bắt tội – kể cả sau này bị Quốc Tảng mắng thì cũng chỉ tránh né là được rồi. Như thế cuộc hôn nhân giữa hai gia tộc đã không kéo dài để mối liên kết hai nước được bền lâu hơn. Chỉ vì như đã nói, thời thế đã khác, đã có đổi thay trong triều chính, xã hội Đại Việt cũng như Chiêm Thành khi thoát được áp lực bên ngoài để trở về với những điều kiện phát triển khu vực.

Quanh đầu thế kỉ XIV, lớp người thời chiến tranh chống Nguyên đã bắt đầu rơi rụng. Trần Quang Khải ít thọ nhất (1294), Trần Quốc Tuấn ra đi (1300) gây lo lắng cho Anh Tông, Nhân Tông cũng không thể nhờ Phật pháp kéo dài sinh mệnh (1308), Trần Nhật Duật bền dai hơn (1330) nhưng cũng chỉ giữ nhà khi Anh Tông thân chinh (1312). Trong lúc đó thì đã có lớp người mới nối nhau tiến lên thay đổi bộ mặt đất nước. Điểm thời gian tượng trưng cho sự thay đổi trên tộc cầm quyền là lúc có chuyện xăm hình rồng mà cũng tình cờ là lúc sắp chuyển đổi thế kỉ (1299). Ông thượng hoàng Nhân Tông buộc con xăm rồng ở đùi để nhớ truyền thống “người Miệt Dưới” nhưng Anh Tông trốn lánh vì mình đã đứng đầu nước. Ông thượng hoàng từng đe dọa truất quyền vua khi thấy con say rượu nhưng lần này lại không nổi giận mà bảo xăm cho người khác vì bản thân ông cũng thấy truyền thống “đời đời làm nghề đánh cá” đã xa quá rồi, cái truyền thống ông muốn níu kéo lại mà con ông, thuộc thế hệ khác, đã phủ nhận để nhắc nhở ông, và nhờ đó ông đã thấy ra. Rồi theo với người trên, quân sĩ dưới quyền cũng bỏ không xăm hình rồng nữa (1323). Tin tưởng truyền thống phai lạt dần, đến cả ý thức hệ mới của tông tộc cũng mất sinh khí. Lại cũng Anh Tông trả lời cho Huệ Đức Vương (một thân vương!): “Ông cha ta xưa thường ăn chay nên ta bắt chước theo, còn ích lợi gì thì ta không biết.” Xã hội dưới quyền Trần do đó đã phức tạp hơn, được nhận rõ phức tạp hơn.

Không phải chỉ những tập thể xuất hiện mà còn là những con người riêng rẽ. Chính ông Anh Tông (lên ngôi 1293) của thời mới đã sử dụng một “nho sinh” Đoàn Nhữ Hài (1299) không qua bằng cấp để ông quan này bị phái khoa bảng chê “miệng còn hoi sữa.” Tuy vậy thể thức thi cử cũng đã chi li hơn (1304). Lớp nho sĩ thấy ra con đường tiến thân nên có Nguyễn Trung Ngạn 15 tuổi đỗ Tiến sĩ. Kết quả, khoảng niên hiệu Đại Trị (1358-1369, Dụ Tông) mới có tập thể “bọn học trò mặt trắng… thay đổi phép tổ tông… không xiết kể,” có ông Chu An dựa vào nhóm “học trò” của mình, đòi chém quyền thần. Và rồi thế lực đó đã khiến ông Nghệ Tông tuy chê như trên nhưng cũng phải thấy ra một tập đoàn có tính cách khác với tông tộc của mình, nên ghép một số người nổi bật vào Văn miếu với ông tổ Khổng Tử – cùng một phe, không ngại sử quan đời sau chê rằng ông Chu An cao quý không thể ngồi chung bàn thờ với ông Trương Hán Siêu “chơi với kẻ không đáng chơi,” với Đỗ Tử Bình “tham lam bòn vét” (lời Phan Phu Tiên), “lén đánh cắp vàng cống của Bồng Nga,” bỏ vua chết trận (lời Ngô Sĩ Liên)… Tính chất cá nhân trong đời công cũng được ghi nhận ở những người ít tăm tiếng khác. Có người giỏi ứng biến, tuy rằng từ đó cũng thấy dẫn đến sự bắt chước tầm thường (Trịnh Trọng Tử 1310) có thể đi đến thói ranh ma (Hiệu Khả, 1327), hay tính chi li dẫn đến mức độ gàn bướng vặt vãnh (Trần Cụ 1305)…

Đời sống thời bình trở nên buông thả hơn. Năm 1296, một ông Thượng phẩm (khoảng năm đó Phạm Ngũ Lão mới chỉ là Hạ phẩm) đánh bạc bị vua sai đánh chết. Thế mà Trần Khắc Chung họp với Nguyễn Sĩ Cố (chết 1312), “cận thần” hầu Anh Tông, đánh bạc “hai, ba ngày, đánh thâu đêm suốt sáng, ngồi ngay trên giường đánh bạc mà húp cháo, không nghỉ…” không gặp phiền hà gì hết. Và sau này chính vua (Dụ Tông) cũng đánh bạc! Bức tường ngăn cách khắt khe giữa các tầng lớp bắt đầu rệu rã. Ta đã nói chuyện ông con út Thái Tông mê tiền của nhà Phạm Ngũ Lão. Trần Khắc Chung tham ăn khen ngợi vợ con quân nhân – lớp người dưới đời Lí là nô, đời Trần cũng không hơn mấy, ở ngay quê hương vua có giỏi văn học cũng không được thi cử, suốt đời làm lính để bảo vệ hoàng tộc. Trương Hán Siêu gả con gái cho tam bảo nô Nguyễn Chế “vì mộ sự giàu có.” Điều đó chứng tỏ đà tăng tiến xã hội đã làm đảo lộn các tầng lớp khiến cho những kẻ có địa vị thấp kém không thể an tâm chịu đựng mãi một khi có biến động lớn khuyến khích họ. Ngôn ngữ thường tình của dân chúng đi vào triều đình trong sự kiện Nguyễn Thuyên được vua sai làm văn gọi cá sấu (1282), và cả chính vua làm phú ca tụng cuộc đời vui với Đạo (Phật). Chữ nôm có dấu vết trên thượng tầng quốc gia, tuy nhiên kẻ sĩ nôm còn ở địa vị thấp nên Nguyễn Sĩ Cố mang chức “Học sĩ (đọc/biết) Ngàn chương sách” cũng chỉ là một chức đặt ra để làm vì mà thôi. Cũng như một ông bạn đồng liêu khác chỉ trông coi mấy cái mũ quan quân! Có vẻ như tiền tài đã mang danh vọng đến cho loại kẻ sĩ này vì Nguyễn Sĩ Cố rất giàu, bằng cớ nơi lời Nguyễn Trung Ngạn làm thơ ca tụng mả ông “học sĩ”: Hiu hắt nghìn mẫu tươi tốt như mây. Quan lại ganh ghét, bới móc, kèn cựa, có dịp thì cũng đưa nhau đến chỗ chết, hệt như mọi tập họp quan quyền khác ở thế gian này.

Cũng dưới đời Anh Tông có sự đoạn tuyệt với Chiêm Thành trong trận chiến 1312 bắt Chế Chí, đặt người em vua cũ lên ngôi, chấm dứt một thời liên minh. Để chú ý tới những cuộc tràn lấn từ phía bắc, phía tây với những tập đoàn Thái lẻ tẻ, để những vấn đề địa phương nổi bật khi sự đe dọa lớn của Nguyên không còn nữa. Giữa thế kỉ XIII, nhóm Thái ở Menam chống ách Angkor, thành lập nước “Tiêm” ghi trong Bắc sử, mở rộng vương quốc xuống tận bán đảo Mã Lai. Một nhóm bộ tộc Thái từ Vân Nam tràn xuống, theo dòng Nậm U đến Luang Prabang để đến đầu thế kỉ XIV thì có nước Lan Xang Triệu Voi kề cận Đại Việt. Cho nên Đại Việt cũng thấy áp lực của các nhóm Thái tiên phong trên lãnh địa của mình, nhất là qua thung lũng sông Đà từ Ai Lao đến. Trần Nhật Duật thuyết phục hoà hoãn với nhóm Trịnh Giác Mật (1281) được coi như chiến thắng của văn minh, kiểu Quách Tử Nghi nhà Đường đối với Hung Nô. Nhân Tông thắng Nguyên rồi cũng phải lo chận biên giới phía tây (1290). Tuy nói rằng thắng trận nhưng các chiến dịch không phải không gặp khó khăn: bị vây (1295), chết tướng (Trương Hiển 1298), chống đỡ (1300) rồi cuối cùng cũng mất đất cho đến khi Minh Tông thân chinh (1329) vẫn không thấy dấu hiệu thắng trận, và năm 1335 vua thân chinh đi đánh phía Nghệ An thì Đoàn Nhữ Hài bị chết đuối..

Trần còn phải đối phó với những vấn đề nội bộ để cho những tranh chấp tông tộc vào lúc ý thức độc tôn suy tàn dẫn đến sự tan rã của bản thân, dành nơi ngự trị cho những thế lực khác, trong cũng như bên ngoài biên cảnh.

Phụ lục

LÊ TẮC GHI NHẬN VỀ ĐẤT NƯỚC CŨ

Nước An Nam xưa là đất Giao Chỉ… Đàn ông lo làm ruộng, đi buôn, đàn bà lo nuôi tằm, dệt vải; ăn nói hiền hoà, ít lòng ham muốn. Thấy người ở xứ xa trôi nổi tới nơi, họ hỏi thăm là lẽ thường. Người ở châu Giao, châu Ái thì rộng rãi, có mưu trí, người ở Hoan, Diễn thì thuần tú, ham học, còn thì đều khờ dại, thật thà. Dân hay vẽ mình, bắt chước phong tục vùng Ngô, Việt. Liễu Tư Hậu có thơ: “Cùng đi tới xứ dân Bách Việt vẽ mình.” Trời nóng, dân ưa tắm sông nên chèo thuyền và lội nước rất giỏi. Ngày thường không đội mũ, đứng thì khoanh tay, ngồi thì xếp bằng hai chân. Khi yến kiến bậc trên thì quỳ lạy ba lạy. Tiếp khách dùng trầu cau, ưa ăn dưa, mắm và đồ biển. Uống rượu quá nhiều nên người gầy ốm, đến 50 tuổi đã khỏi đi lao dịch.

Thường năm, trước Tết hai ngày, vua ngự xe với các quan mặc triều phục mở đường đến tế điện Đế Thích. Ngày 30, vua ngồi giữa cửa Đoan Củng, quan làm lễ xong thì có con hát trình diễn đủ trò, tối qua cung Động Nhân bái yết Tiên vương. Đêm ấy có đoàn tăng đạo vào cung làm lễ đuổi ma quỷ. Dân gian mở cửa, đốt pháo tre, bày bàn trà rượu cúng tổ. Trai gái nhà nghèo không người mai mối thì tự mình phối hợp với nhau. Ngày Nguyên đán, canh năm, vua ngự trên điện Vĩnh Thọ cho con cháu, cận thần chúc mừng trước rồi vào cung Trường Xuân lạy tổ. Sáng ra vua ngồi điện Thiên An, các phi tần ngồi sắp lớp, cận thần đứng lộn xọn trước điện, có cử nhạc, con cháu, các quan dâng rượu ba lần rồi con cháu vua lên điện ăn tiệc, quan trong ngồi nơi điện nhỏ phía tây, quan ngoài ngồi hai bên hành lang, ăn uống xong đến trưa thì ra về. Các thợ khéo làm một cái đài Chúng Tiên hai tầng trước điện, chỉ một lúc thì xong, vàng ngọc sáng chói. Vua ngồi ăn trên đó, các quan làm lễ chín lạy, chín tuần rượu rồi giải tán.

Mồng Hai các quan làm lễ ở nhà. Mồng Ba vua ngồi trên gác Đại Hưng xem con cháu và các quan đánh cầu thêu, bắt được bóng không rơi xuống đất là thắng. Bóng dệt bằng gấm, lớn như nắm tay trẻ nhỏ, có tua đến 20 sợi. Mồng Năm làm lễ Khai hạ, ăn yến xong thì thả cho dân đi lễ chùa miếu, vườn hoa. Đêm Nguyên tiêu (rằm) trồng những cây đèn giữa sân rộng, gọi là đèn Quảng Chiếu, sáng rực rỡ khắp nơi, trên trời dưới đất, các sư đi quanh tụng Kinh, các quan lễ bái, gọi là “Chầu Đèn.” Tháng Ba lập đài Xuân, con hát hoá thân làm mười hai vị thần đứng múa hát. Vua coi lực sĩ, trẻ nhỏ tranh đua các trò trên sân, ai thắng thì được thưởng. Các vương hầu cỡi ngựa đánh cầu, quan nhỏ thì đánh cờ, đánh bài, đá bóng, đủ thứ.

Ngày Hàn thực thì tặng nhau bánh cuốn, Mồng Bốn tháng Tư, con cháu vua và cận thần hội nhau ở miếu Thần Núi, thề trung thành với vua, không có chí khác. Mồng Tám tháng Tư mài trầm hương, bạch đàn dầm nước tắm tượng Phật, cúng Phật bằng bánh giầy. Tết Đoan dương (5 tháng 5) làm nhà gác giữa sông, vua ngồi coi đua thuyền. Ngày Trung nguyên lập hội Vu Lan Bồn cúng tế, siêu độ cho người chết, không tiếc tốn hao. Ngày Trung thu, Trùng cửu là ngày các quan vui vầy, thưởng ngoạn. Ngày mồng Một tháng Mười làm tiệc cúng ông bà, gọi là cúng Cơm mới, cho các quan xem gặt, săn bắn làm vui. Tháng Chạp lại cúng ông bà như trên. Theo Gia lễ, ngày Lập Xuân ra lệnh các tông trưởng (?) giắt trâu đất, xong cho các quan cài hoa vào dự tiệc. Về lễ Hôn thú thì trong tháng xuân, người mối bưng tráp trầu cau đến nhà gái hỏi. Xong, tặng lễ vật, nhà giàu từ trăm đến ngàn, dân thường thì giá trăm là đủ số. Nhà nào coi trọng lễ nghĩa thì không kể ít hay nhiều. Cách để tang, nhà cửa, đồ dùng hơi giống Trung Quốc.

Nhạc khí thì có trống cơm của Chiêm Thành, kiểu tròn và dài, nghiền cơm dán bịt hai đầu, vỗ thì tiếng trong, rõ ràng. Hợp với kèn loa, ống tiêu, xập xoả, trống lớn gọi là Đại nhạc, chỉ Vua mới dùng, còn nhà tôn thất, quan thì dịp đám tang, đám cưới mới được dùng. Tiểu nhạc gồm cầm, đàn tranh, tì bà, bảy dây, hai dây, ống địch, ống sáo, kèn quyển gọi là tiểu nhạc, ai cũng dùng được. Nhạc khúc thì có Nam Thiên Nhạc, Ngọc Lâu Xuân, Đạp Thanh Du, Mộng Du Tiên, Canh Lậu Trường không thể kể hết. Hoặc dùng thổ ngữ phổ vào âm nhạc để tiện ca ngâm. Các bài ca nhạc gợi được mối tình hoan lạc, sầu oán. Đó là tục người An Nam vậy.

(Phỏng theo bản dịch An Nam chí lược, Đại học Huế 1961)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s