Bài sử khác cho Việt Nam: Chương VI – Một giai đoạn tông tộc trị nước

Tác giả: Tạ Chí Đại Trường


 

Triều mới, đô mới và thời mới

Cho tới gần đây (và với một số lớn người mày mò kinh sách) thì nhà Lí (và Trần) là triều vua Việt rực rỡ nhất mở đầu cho những triều vua tiếp theo, biểu hiện cho một nền văn minh riêng biệt sau thời Bắc thuộc được mệnh danh là văn minh Đại Việt, mang những yếu tố ưu việt trường tồn đến tận ngày nay. Điều đó cũng không có gì là sai nếu gạt bớt ý nghĩ “thuần tuý” chủng tộc, độc tôn văn hoá trong sự tán dương nọ vốn dựa trên các chứng tích sai lầm, mà khi biết ra vẫn cố tình giấu diếm hoặc tránh né để khỏi phải thay đổi thành kiến.

Chống Tống, bình Chiêm là công trình của các ông vua đầu đời thu xếp theo tình thế trong ngoài đương thời chứ không phải vì một chủ nghĩa dân tộc riêng biệt, hay một ý thức trung quân quá sớm. Tập họp thiểu số biên giới phụ hoạ Lí đánh Tống chỉ là theo thói quen của một tâm thức cướp đoạt bình thường, xuôi ngược theo hướng gió chiến thắng chứ không phải là sự chọn lựa của lí tưởng. Cho nên năng lực tích tụ từ đất Hoa Lư qua hai phần ba thế kỉ tự chủ đã chuyển qua tập họp Lí của một vùng khác thì phải đi theo chủ về quê hương bản quán mới: Đó là lí do khởi phát bình thường của việc dời Đô. Họ về vùng đất ngày nay tuy không còn “sơn lăng” nhưng còn đền Lí Bát Đế, chứng tích 8 đời vua, xưa gọi là Cổ Pháp, có vua theo cách “áo gấm (rồng) về làng,” cho tiền bạc, xây chùa chiền, thu phục cảm tình dân chúng, trước tiên là để ổn cố vị trí của mình.

Đô mới không phải là nơi hoang địa mà là Tống Bình, Đại La của thời thuộc trị, từ Long Biên dời về (khoảng 590), là “đô cũ của Cao Vương (Biền), ở giữa khu vực trời đất… chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi sông núi sau trước… chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.” Người nào làm bài Chiếu dời đô cho vua Lí, không nói ngoa mà chỉ tán dương một điều đã cũ. Viên quan phương Bắc nào chọn lị sở cho châu Giao, giữ chỗ cho phủ Đô hộ An Nam để mở cơ quan cai trị nơi mang tên Tống Bình, La Thành, Đại La hẳn đã thấy rõ rằng với vị trí này có thể phát triển được thuộc địa trong khả năng tối ưu. Nó được đặt tên mới Thăng Long từ khi thấy bầy cá sấu bỏ chạy trước binh thuyền Hoa Lư rộn ràng cập bến, sẽ lại cũng mang ưu thế đó cho người chủ mới. Trở về với thủ phủ thời thuộc địa, Lí lại có cơ hội liên hệ với thân tộc xa đời hơn về phía bắc, mở rộng tầm vóc phát triển. Và tất nhiên tình thế mới đó là của một nước có chủ quyền chứ không phải là một thuộc địa như cũ.

Quyền lực của Lí và tình trạng liên minh với tầng lớp hào trưởng, hào sĩ

Hoa Lư tuy cũng là một bộ phận của hệ thống karstic Hạ Long, nằm bên rìa nam của đồng bằng sông Hồng nhưng tính chất địa lí đã không thể đi đôi với tình hình chính trị. Dưới chủ quyền hai họ Đinh Lê, vùng phía Bắc không được chú trọng như vùng phía Nam. Có thể Đinh còn phải lo ổn định, trong lúc Lê Hoàn gốc “con nuôi” đất Thanh Hoá, đã hướng nhiều về đất căn bản đó để lấy thế cân bằng với Hoa Lư, rồi đến Ngoạ Triều thì còn nhìn về phía nam xa hơn vì vị thế càng cô lập của ông ở Hoa Lư. Tất nhiên, Lê Hoàn đã phong đất cho con trên đồng bằng phía Bắc, lại cũng “cày tịch điền” ở núi Đội để xác nhận quyền uy nơi đó, nhưng so ra thì rõ ràng các biến động trong đời ông không thấy xảy ra nhiều, và dữ đội như ở phía Nam. Tuy nhiên, như đã nói, Hoa Lư dù sao cũng chỉ là một nơi ẩn nấp của một chính quyền non trẻ, có sức mạnh cấp thời mà không có một truyền thống. Sự co cụm tạo nên được sức mạnh cố thủ mà không có hướng phát triển về tương lai. Truyền thống xây dựng một tổ chức tập trung quyền hành là ở Đại La của cựu thuộc địa, bây giờ được nâng cấp làm trung ương ở Thăng Long của Lí Công Uẩn vừa dời đến, không phải đơn độc với dòng họ mà cả một lực lượng quân binh, một kho tàng tích trữ, đủ để đàn áp chống đối cũng như để ban ân mua chuộc trong bước khởi đầu.

Trong chuyến “về làng” thăm dò tháng 2âl. (1010) trước khi đổi chỗ hẳn, Lí Thái Tổ đã ban tiền lụa cho các bô lão “theo thứ bực khác nhau,” nghĩa là không để sót người có chút uy thế nào. Hướng mua chuộc thật có chủ đích về đối tượng nên ban hành đại xá, hai lần tuyên bố tha thuế ba năm (1010, 1016) để ngăn chận chống đối, tìm thêm vây cánh. Chính sách có tính toán nặng nhẹ, bỏ lơ một ít quyền lợi bản thân, không màng tính cách hào nhoáng tô vẽ cho gia tộc mà chú trọng vào những việc thấy là thiết yếu cấp thời hơn. Giá có biết đến lời phê phán của Lê Văn Hưu đời sau, mang một ý thức hệ khác, ông chắc cũng bỏ mặc: “Lí Thái Tổ lên ngôi mới được hai năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà đã dựng làm chùa ở phủ Thiên Đức (Cổ Pháp), lại trùng tu chùa quán ở các lộ… tiêu phí của cải vào việc thổ mộc không biết bao nhiêu mà kề.” Không phải chỉ ở đời ông, đến đời sau, Lí Thái Tông còn “phát tiền thuê thợ làm chùa quán đến 950 ngôi ở các hương ấp…” Rõ ràng ông vua con không chỉ làm chùa trên đất riêng của mình mà còn trên lãnh thổ của các thủ lãnh nhỏ khác. Con số to lớn 950 khiến người nay ngần ngại nhưng dễ chấp nhận với chút rộng rãi nếu ta nhìn ra được ý nghĩa mua chuộc kia.

Bởi vì Lí không phải là chủ nhân ông thực sự của toàn thể vùng đất của phủ Đô hộ cũ, của nước Đại Cồ Việt mới. Kế tiếp Đinh, Lê, họ đã hưởng thành quả của những người này về phương diện chủ quyền đất đai. Bộ phận vùng Ái Châu, Cửu Chân của ông Đại diện vua nước Đô hộ ở Hoa Lư, ông Lê Lương, chắc bị Lê Hoàn chiếm trong vụ đánh Dương Tiến Lộc (989) nên đất đai đã thuộc về Lí, bằng chứng từ việc trả lại đất năm 1093. (Có tác giả cho là các năm 1081, 1091, tuỳ người đọc bia xưa.) Vụ việc này cho thấy có liên quan đến hành trạng chìm nổi của một người trong dòng là Lê Văn Thịnh. Tuy nhiên Lí vẫn phải khó nhọc trong vùng với “man” Cử Long (1011), có vẻ là toán tiền phong của tộc Thái men theo sông Mã đi xuống –tên tộc người có dáng dấp loài rắn như tộc Ngưu Hống / rắn hổ mang, phía sông Đà. Lí phải đánh “dân châu Diễn ngu dại làm càn” (1013) nhưng không biết vào lúc nào, vẫn phải gả con gái, lập liên minh thông gia với một “trại chủ” họ Hồ – họ này qua bao nhiêu chìm nổi rồi sẽ làm vua nước Việt. Lí dẹp loạn châu Hoan (1031), châu Ái (1035) trước khi đặt thân vương cai trị, nhưng vì đi ra Bắc, đất Thanh Nghệ đã trở thành “trại” xa lạ, xuống cấp so với “kinh” của trung châu nên thế kềm giữ phải lỏng lẻo hơn. Ở đó có những người thu thuế cho vua, chắc theo quy định ăn tiền “hoành đầu” năm 1042 với các danh hiệu Thái tử Chủ bộ, Vương phủ Chủ bộ. Trên bậc cao nhất có em vua (Lí Hoảng / Lí Nhật Quang) như một Phó Vương (1041), nhưng chức phận nổi bật là “thâu thuế châu Nghệ An” chứa trong 50 kho, người với những xếp đặt cai trị va chạm đến trung ương, có vẻ như đã bị giết, được cho là oan ức nên oai vọng còn đi xa về sau, giống như những trường hợp tương tự, đến mãi trên những vùng chiếm được của Chiêm Thành.

Trên vùng trung châu phía Bắc, có thể theo dõi việc “thăm ruộng, cày tịch điền” thì biết được các vùng đất triều cũ chuyển qua Lí. Đó là những vùng của cựu sứ quân Ngô, Đỗ phía tây, phía nam Thăng Long, tất nhiên không thể bị chiếm hết nhưng là những vùng màu mỡ như chuyện ở hương Tín có cây lúa chiêm 9 nhánh (1032). Vì thế vùng Ứng Thiên được nâng lên làm Nam Kinh (1014). Xem gặt ở Vĩnh Hưng (1030 – đất họ Phạm?), xây hành cung (1064, ĐVSL), lần đầu khoe tài vua biết cày ruộng ở cửa Bố – đất Trần Lãm cũ (1038, 1065, ĐVSL), đất núi Đọi của Lê Hoàn xuất hiện theo bia Sùng Thiện Diên Linh (1121), tất cả chứng tỏ đã đổi chủ… Dò theo các hành cung, chùa tháp Lí xây cất, ta cũng có thể đoán ra những lãnh địa thuộc quyền Lí như vùng cửa sông Đáy (Ứng Phong), Đồ Sơn (tháp Tường Long)… không kể các khu vực an tháp tù binh Chàm. Toàn thể các khu vực này được các sử quan coi như đất của hoàng đế nhưng qua cách ứng xử mà chính sử quan cũng không che giấu được, thì có thể gọi đó là đất của các ông điền chủ hoàng đế.

Phần chừa lại là đất của các điền chủ khác mà sử gọi là những “hào trưởng.” Những người này tuy cũng không đủ binh lực chống lại Lí nhưng còn thế lực địa phương mà Lí không với tới. Họ đã thực sự làm chủ đất đai đã đành mà còn có kiến thức để được gọi là hào sĩ, như ta sẽ thấy trong hành trạng xuất thân của vài người phục vụ Lí. Đó là người của những “hương ấp” mà Lê Tắc ở thế kỉ XIII còn thấy hiện diện, là đất “thế tập” truyền đời của những người có danh hiệu Chủ đô, Đại toát, Tiểu toát… Bằng chứng có thể suy đoán từ ngay các dòng sử để lại như khi ta xét đến một vài vấn đề về sau, nhưng cũng có thể thấy ngay trên bia đá muộn “Đại Việt Quốc, Binh Hợp hương, Thiệu Long tự bi” (1226) của một người họ Đỗ, Đỗ Năng Tế, nói là được cấp làm ấp thang mộc. Ông chủ đất này được sách ĐVSL ghi vào năm 1216 với tên Đỗ Tế, bị biến loạn xua đuổi khỏi ấp Hợp, chắc là đã lợi dụng lúc chuyển đổi triều đại (1226) để trở về đất cũ. Như vậy tấm bia, dù là đánh dấu tự xác nhận chủ quyền hay được Trần cho tiếp tục chủ quyền cũ, cũng chứng nhận rằng một người họ Đỗ đã có riêng một “hương” gần kinh thành. Những người họ Đỗ khác đã thấy rất nhiều, hiện diện ngay vào lúc thành lập triều đại, nằm ở tột đỉnh quyền lực (Đỗ Hưng vào Thân vương ban, 1039), có lúc khuynh loát triều đại như sẽ thấy về sau, dai dẳng đến mức còn một người được vào họ Trần cao vòi vọi (Đỗ/Trần Khắc Chung), tất cả hẳn là dòng gần gũi của sứ quân Đỗ Cảnh Thạc. Họ Đinh, họ Phùng đã làm Điện tiền chỉ huy sứ trước khi bị thanh trừng, họ Quách đã có chức phận cao mà còn đẩy thêm một nhân vật cùng họ vào nắm tột đỉnh quyền hành. Liên hệ với họ Đỗ, họ Quách còn có họ Tô với Tô Hiến Thành may mắn, khác với người thất bại là Tô Hậu, bị giết (1109).

Ta không kể những dòng họ có lãnh thổ xa hơn như họ Thân, họ Lương làm đệm trên đường qua Trung Quốc, lâu đời như họ Mạc và sau này, họ Trần lấp khoảng trống trên vùng sông nước hạ lưu ngoại biên. Đất vùng Yên Tử, thời Tường Phù (1008-1016) vua Tống còn được nhà sư ở đấy dâng bản đồ, được ban tên là Tử Y Động Uyên, giữa thế kỉ lại mang tên Xử Châu cũng của Tống (An Nam chí lược), nghĩa là không phải thuộc họ Lí như ta có thể tưởng. Với những người ở ngoài tầm tay thì họ Lí kết thông gia (họ Thân, họ Lương phía bắc, họ Lê cũ trên vùng châu Phong), với những người trong tầm quyền lực thì Lí phong tước trong triều theo với tương quan uy thế có sẵn ứng hợp với thời mới. Cho nên ta thấy trong quy định thu thuế 1042, ngoài “quản giáp” có “chủ đô” (hương-ấp-quan theo Lê Tắc) tham dự, mà thành phần này khi về phục vụ Lí chắc được gọi “quan chức đô,” chỉ là hạng sai phái – như chứng tích nằm trong các lệnh về sau.

Các “tư gia” được người của Lí bỏ chủ ra phục dịch hẳn là thuộc cấp cao, làm việc cho Lí mà không lãnh lương như Phan Huy Chú ghi nhận. Tất nhiên không phải họ nhịn đói mà là lấy “lương” từ lãnh địa riêng của họ. Đăt trong viễn tượng này, ta giải thích được tại sao Lê Văn Thịnh đậu trong một kì thi chỉ lấy có một người (1075), được ngày nay tán tụng là “trạng nguyên đầu tiên của nước Việt,” đúng ra chỉ là được lấy vào để dạy ông vua 9 tuổi, “hầu vua học.” Ông bị kết tội âm mưu giết vua mà không bị tru di tam/cửu tộc, hay ít ra là “lên ngựa gỗ,” “phơi xác chợ Đông/Tây” theo luật pháp đương thời. Ta cũng không biết tại sao Mạc Hiển Tích (đậu 1086, đi sứ Chiêm 1094) được gán cho là dám ve cả bà Thái hậu (chỉ có thể tương đương với bà Ỷ Lan) – sự việc chắc được nhớ lộn với của một ông Thái sư quyền thế ở thế kỉ sau, lúc triều chính có một ông Phụ quốc họ Ngô, một ông xử án họ Lê. Những người đó phạm tội tầy đình mà được ngó lơ hoặc xử nhẹ, rõ ràng là còn có cả một thế lực quê gốc đằng sau. Họ đến phục vụ Lí như liên kết với một thế lực mạnh, mới, thừa hưởng được khung cảnh trật tự chung từ thời thuộc địa, có một quyền bính trung ương mang tên cũ là Đại La, nay là Thăng Long. Ông hoàng đế điền chủ Lí có binh lực lớn, có tay chân, lập được một tổ chức quân quyền đủ đàn áp những thế lực nhỏ nhưng vì vướng víu với ruộng đất, nên chưa đủ khả năng quản lí toàn cõi. Nhờ đứng ở vị trí cựu thủ phủ thuộc địa, ông trở thành một điểm hướng chầu về một cách tự nhiên của con cháu các lãnh chúa địa phương, hành động giống như cha ông họ trước kia.

Tất nhiên vì lấy từ khuôn mẫu Trung Hoa nên sự thăng trầm trong các triều đại đầu tiên này vẫn mang dáng dấp các triều đại phương Đông nhưng không phải là không có những dạng hình chi tiết khác. Sử quan Việt ghi những lần tha tô thuế của Lí, có lúc liên tục đến ba năm, như với ý nghĩa là ân sủng của đấng quân vương ở một triều đình Hán, mà không thấy thắc mắc rằng vua lấy đâu ra của cải để điều hành việc nước, ít ra là phát lúa cho lính ăn chống đỡ cho dòng họ, triều đình. Chỉ có thể hiểu là Lí điều hành việc “nước” bằng tiền của của mình là chính, và lúc nào cần tỏ ra rộng rãi thì không lấy thuế nơi các lãnh chúa nhỏ kia mà gọi là “tha tô thuế.” Họ chỉ (đủ sức) ban phát ân huệ trong dịp đặc biệt cần thiết như phát tiền Minh đạo trước khi đi đánh Chàm mà không phát lúc lần đầu đúc tiền này (1042). Lối sống liên minh ban phát có thứ bực đó là điều kiện tồn tại cho dòng họ Lí trong tình thế mở rộng cánh tay quyền lực trên đất cựu thuộc địa.

Các hoàng đế điền chủ củng cố và khuếch trương quyền lực

Như đã thấy, những đổi thay “theo Tống” trong triều Lê đã làm yếu sức quan niệm phục tùng thủ lãnh kiểukurung mà đã giúp chuyển sang một ý thức về quân quyền càng tăng tiến khi Lí dời về Thăng Long. Tuy nhiên dù là hoàng đế trong một quyền bính mang tính chất quân chủ phương Đông, người cầm đầu ở đây vẫn phải là một thủ lĩnh mạnh như các đời Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông cho thấy còn mang dáng dấp của quá khứ. Dấu hiệu vũ dũng của Thái Tổ thể hiện nơi con thần mã Bạch Long, của Thái Tông nơi cái thuẫn lay động đòi hỏi ra quân, và của Thánh Tông trong cuộc biểu diễn múa khiên mừng thắng trận ngay trên điện vua Chàm vừa chiếm được. Vì lẽ đó con cháu các thủ lãnh vùng phải chịu phục tùng, không thể nào diễn trò đảo chính như cũ nữa.

Vị trí Thăng Long giữa một vùng trung châu lớn, đất màu mỡ đem lại cơ hội cho họ Lí mở rọng quyền hành hơn. Lãnh đất thì lãnh trách nhiệm cho nên cũng như Cao Biền xưa, Lí Thái Tổ phải chận dòng Thái tràn xuống trung châu (1012-1014), hay đàn áp các thủ lĩnh bên rìa đồng bằng từ lúc phủ Đô hộ tan rã, đã trở nên độc lập hơn đối với chính quyền Tống xa nên càng thấy khó chịu nhiều hơn với chính quyền Thăng Long gần. Nổi bật nhất là vấn đề tập đoàn Nùng của Nùng Tồn Phúc, Trí Cao (1039, 1041, 1048, 1052) dẫn đến các tranh chấp biên giới với Tống gây cuộc chiến 1075-77.

Có vẻ như tiền của mang từ Hoa Lư đi (ví dụ vàng bạc của ông Lê Hoàn bày ra phơi “chật cả sân” để khoe với sứ Tống) cùng những lợi tức thu nhận trực tiếp từ quanh Thăng Long (chiến lợi phẩm, mùa màng, cống phẩm – trong đó có vàng) đã đủ cho Lí Thái Tổ xây cung điện, làm việc mua chuộc các thế lực nhỏ, đánh dẹp những chống đối lớn. Nhưng việc giữ gìn quyền lực vẫn thường phải dẫn đến hành động bành trướng quyền lực. Thái Tông sắp xếp các đơn vị quân binh, đóng thuyền lớn nhỏ để mở rộng khả năng tác chiến. Đến đời ông mới thấy có một chừng mực tổ chức diẹn địa (làm đường, có trạm kiểm soát như một hình thức rào biên giới), phân chia thành phần dân chúng để lấy người chiến đấu, tổ chức hình luật, siết chặt kỉ luật với quân binh… Kết quả của những xây dựng đó được nối tiếp ngay đời sau. Việc bành trướng quyền lực lại đòi hỏi chi tiêu nhiều hơn với những lợi tức không chỉ là từ nông nghiệp. Thế kỉ XI đã thấy bóng dáng của đế quốc Angkor trong những ghi chép “Chân Lạp sang cống” (1014, 1020, 1026). Đó là chứng cớ về dòng giao thương theo lưu vực Mekong trên đất Lào chuyển qua Nghệ An thông với biển Đông khiến nơi này trở nên quan trọng đến phải có một thân vương (Lí Nhật Quang) trấn giữ. Lí lại thấy có cơ hội thu lợi tức từ phía nam, gợi nhớ từ trận chiến của triều trước.

Năm 1043 “giặc gió sóng” Chiêm Thành theo gió nam đến cướp ven biển. Người đời sau cho rằng trận chiến chiếm Chà Bàn trong năm sau có nguyên nhân là phản ứng của Thái Tông đối với cuộc cướp phá này. Nhưng với Thái Tông thì không phải như vậy. Ông đã hỏi quần thần một cách giả vờ ngây thơ: “Tiên đế mất đi đã 16 năm mà sao chưa thấy Chiêm Thành sang cống? Uy đức ta chưa đến họ chăng?” Ông quyết định đánh người, không màng đến tính đạo đức giả trong lập luận, như Ngô Sĩ Liên về sau đã bài bác: “Giặc xâm lấn mà đem quân hỏi tội thì phải rồi, còn nói là muốn cho người ta phục thì lấy đức cảm hoá là đủ, sao lại phải đem quân đi xa?” Cũng nên lưu ý rằng sử ghi năm 1042 có “đói to,” nghĩa là hé cho thấy một yếu tố kích thích ra quân. Vậy thì chuyến nam chinh 1044 là do viễn vọng về kho tàng phương Nam tích trữ trong vai trò của Chiêm làm trạm trung chuyển của con đường thương nghiệp Hoa Ấn, mở đầu với Harivarman II lên ngôi 989, chuyển qua người gọi là Yang Ku Pu Vijaya Sri (999) năm sau dời về Chà Bàn, gây một sự hưng thịnh mới quanh đất Bình Định ngày nay khi xây dựng triều đại của “Vương quốc Vijaya mới thành lập,” như lời sứ báo với vua Tống.

Nhưng trận chiến thắng 1044, giết Sạ Đẩu (Jaya Shimhavarman II) đem cho Thái Tông ngoài cung phi mĩ nữ, vàng bạc dành cho sự hưởng thụ cấp thời, còn làm rẽ ra một lối mới cho nhà Lí trong việc khai thác thành quả mà ta không rõ là có được dự tính trước hay không. Họ đã bắt được đến 5000 tù binh Chàm ngay trên đất Quảng Nam giáp vùng biên giới phía nam của Đại Cồ Việt, như thế thật dễ dàng cho việc di chuyển người lên phía bắc. Tuy nhiên, thời Lê, nơi “động” Hoa Lư chật hẹp, Lê Hoàn chẳng biết làm gì với các tên dân, lính chiến bại cho nên cuối cùng đành đẩy đám này về với dân xứ họ (992). Lí Thái Tổ cũng chưa biết cách nào khác hơn. Ông thả tù binh “man” của Ngoạ Triều, “tha cho người ở vùng Nam Giới… châu Hoan” được về xứ sở cũ (1011). Thái tử dưới quyền ông đi đánh Chiêm Thành cũng chỉ giết người (1020), có bắt tù binh thì đẩy vào trong trại Định Phiên để làm đồn binh giữ vùng biên giới (1025). Thế nhưng với Thái Tông đã thấy trên vùng đất quản trị rộng lớn của mình, các thủ lãnh nhỏ đã kềm chặt người dưới quyền – các “khách” của họ, Lí không dễ lấn át mà không gây rối loạn như đã nói. Trong khi đó, nhu cầu quyền lực đòi hỏi thêm nhiều tay chân, thì việc có một số lớn tù binh như thế đem về không những chứng minh được uy thế của ông với các thủ lãnh còn lại kia, mà còn là công cụ cần thiết để khai thác đất đai cho ông hoàng đế điền chủ nữa. Thế là sử ghi ông “xuống chiếu cho các tù binh đều được nhận người cùng bộ tộc, cho ở từ trấn Vĩnh Khang đến châu Đăng, đặt hương ấp phỏng theo tên gọi cũ của Chiêm Thành.”

Sử gia ngày nay chú dẫn đó là vùng Tương Dương của Nghệ An và trên đất Yên Báy, Lào Cai phía tây bắc. Không thể thấy dấu vết Chàm còn lại trên đất Tương Dương sâu trong thượng nguồn sông Cả, có lẽ lúc bấy giờ còn của người thiểu số nào đó hay của người tộc Thái, vì lị sở của Lí Nhật Quang là ở tận phía biển. Còn tù binh phía bắc thì chỉ có dấu vết gần Thăng Long, vùng Bắc Ninh với chính dẫn chứng của Lê Văn Hưu (1272) nơí cái mukhalinga chùa Giạm còn lại, nơi chùa Bà Già ở xã Đông Sơn, huyện Tiên Du, dấu vết còn sót của thôn Bà Già thời Trần Nhật Duật (1330), của Đa Gia Li thời Lí Thánh Tông từ trận chiến 1069. Lại còn có thôn Đanh, xã Dương Xá, phủ Thuận Thành, Bắc Ninh lọt trong báo cáo 1938 cho Phủ Thống sứ Bắc Kì, chứng tỏ có một ngôi chùa Bà Đanh khuất lấp ở đấy, đến năm này đã tuyệt tích rồi. Ngoài chứng cớ an trí hậu cung Chàm ở Thăng Long, phía tây còn có vùng Ba Vì, Thạch Thất, Hoài Đức liên hệ với ông thần sông Đáy Lí Phục Man, xưa có giáp Cam Giá (xứ Mía Ngọt? 1117) quanh quẩn với làng Dừa Yên Sở, Đắc Sở nay, nối kết với vùng hạ lưu Ứng Phong qua hành cung Lị Nhân (vùng Phủ Lí) lưu dấu nơi các chùa Bà Đanh mà tên đặc biệt đã phát sinh các thôn Đanh Xá, xã Đinh Xá của tỉnh Hà Nam bây giờ.

Bằng chứng “làm ruộng” của tù binh là ở nơi các công trình thờ cúng còn lại. Ông hoàng đế điền chủ xây cất chùa tháp để bậc thiêng liêng bảo trợ mùa màng cho mình. Mục đích được mùa là quan trọng nên tù binh thờ thần khác thì vua cũng theo đó mà thờ, không thắc mắc. Cho nên ta mới thấy có chùa Bà Đanh/Banh mang tính phồn thực, ý nghĩa này cũng nằm trong cái linga được vua chia xẻ vì tượng trưng cho thần tính của vua. Ngày nay phần che đỡ cái linga của Lí Nhân Tông đã mất nhưng chúng ta có thể tưởng tượng cái mukhalinga Việt Chàm đó, cao gần 5m tính từ chân đáy, đã nằm trong một ngôi tháp thay vì có hình dạng Ấn Miên như ở phía Nam lại là một ngôi kiểu Hán như chứng tích ở các tháp đất khai quật bây giờ. Tù binh Chàm xây nên tháp phần lớn ở trên gò/đồi như thói quen từ nơi cỗi gốc của họ. Lí Thánh Tông hẳn thấy được thành quả to lớn của việc khai thác tù binh nên năm 1069 dẫn quân đi bắt một số lượng lớn, theo sử cũ thì đến mười lần năm 1044, dù lần này là bắt người sâu trong đất địch gây khó khăn gấp bội cho việc chuyên chở về xứ. Dấu vết Chàm và bằng chứng tù binh đậm nét trên vùng Bắc Ninh chứng tỏ họ đã ở đây với số lượng lớn. Họ đóng vai trò như thế nào trong cuộc tiến quân của Quách Quỳ Triệu Tiết 1076-77? Có điều chắc chắn có bằng cớ là về lâu về dài suốt hai ba trăm năm, họ vẫn giữ được tiếng nói, phong tục thành một tập họp khác biệt khiến gây những biến động không nhỏ trên các triều đại bắt họ làm nô lệ.

Bóng dáng một tổ chức quân chủ phương Đông ở Thăng Long

Dù gì thì các chủ nhân mới của phủ Đô hộ cũng đã xưng vương, xưng đế, bắt chước theo một khuôn mẫu áp đặt từ lâu cho vùng đất mà ngay trong lúc cầm quyền, các thủ lĩnh mới cũng vẫn phải nhờ cậy vào các tay chân được đào tạo từ khuôn khổ cũ đó. Mới đầu thì cũng có những lệch lạc như các sử quan mê muội kinh sách về sau đã chê trách thật nặng nề nhưng chính những người này không thấy rằng sở dĩ tổ chức không ăn khớp với sách vở họ học là vì thực trạng xã hội đã khác với khuôn mẫu, tuy nhờ đó mà nay ta mới nhìn ra được một phần quá khứ bị che lấp. Các hội thề diễn ra ở Thăng Long dưới đời Lí (lan qua đến Trần) rõ ràng là không phải được thực hiện theo nguyên tắc ý thức hệ Nho Giáo mà là vướng víu với lề lối “uống máu ăn thề” của thời bộ lạc xưa, dưới sự chứng kiến của ông Thiên hạ minh chủ thần nơi núi Đồng Cổ âm u ở Thanh Hoá được đem về Thăng Long trú trong miếu Thần Núi như Lê Tắc còn thấy (1285). Sự kiện hội thề đồng thời cũng xảy ra với Suryavarman I (ở ngôi 1011-1050) trên đất Angkor cho thấy tính chất Đông Nam Á ở hai vùng chịu ảnh hưởng Hoa Ấn khác nhau.

Ý thức được mình là một tộc đoàn riêng biệt trên cấp cao xã hội nên Lí Thái Tổ sau khi xây dựng nhà cửa (cung điện), củng cố thực lực nơi ở mới thì làm tăng tiến giá trị dòng họ bằng cách sai lập “ngọc phả” (1026) để ghi dấu dài hơi với thời gian, theo cung cách tông phả của người Hoa Hạ. Trong gia đình lúc đầu đã thấy các danh xưng hoàng hậu, cung nữ chỉ vợ và kẻ ăn người làm, nhưng qua thời gian thì có phân biệt được cấp bậc trong cung, cũng quy định lối truyền ngôi để khỏi xảy ra tranh chấp như loạn Tam Vương (1028). Tất nhiên là còn nhiều thế lực chi phối bên trong nhưng ý thức tôn quân lâu dần cũng kềm giữ được các phe phái không vọng động ngay cả khi thoáng có cơ hội cướp ngôi. Rõ rệt là sự kiện Tô Hiến Thành giữ ngôi cho Cao Tông theo di chiếu (1175) nhưng cũng có thể thấy ngay vào thời Lí Thường Kiệt nắm quyền (1073) lúc Nhân Tông còn nhỏ. Tranh chấp trong triều giữa phái lớn và phái nhỏ (Thượng Dương và Ỷ Lan) dẫn đến số lượng lớn phụ nữ bị giết còn phía đàn ông thì chỉ thấy ghi một ông quan hờn giận (bị tống xuất?) bỏ đi nhưng rõ ràng là Lí Thường Kiệt đã thắng lớn. Ông không phải hành động đơn độc. Dòng họ Quách gốc của ông có người cầm quân, nắm chức cao trong triều (Thái sư Quách Thịnh Ích/Dật đánh Nùng Trí Cao 1048, Thái uý Quách Kình Nhật chia quyền với Lí Đạo Thành năm 1054), vậy mà muốn luồn lọt thêm, ông vẫn phải chịu thiến làm thân phận tôi tớ. Tuy nhiên điều này lại là cản trở to lớn không vượt qua được nếu muốn cướp chính quyền dù đã nắm toàn quân lực trong tay một thời gian lâu dài. Chưa kể mặc cảm thua thiệt ngay tự bên trong thân xác không khuyến khích sự tranh đoạt cuối cùng, một hoạn quan như ông trong khung cảnh triều đình phương Đông dù sơ khai như Lí cũng vẫn chỉ là kẻ bất toàn, không thể nào làm vua, không xứng được làm vua!

Sự ổn cố lâu dài của dòng họ khi làm chủ nước khiến cho việc tổ chức cai trị của Lí càng lúc càng phức tạp hơn. Phải dựa vào hình mẫu xây dựng vương quyền của Trung Quốc nhưng thực tế đất nước là một cựu thuộc địa được nâng cấp cho nên những danh xưng chức vụ, tổ chức có khi chỉ là hình thức, chỉ mang một phần nội dung từ nơi vay mượn mà thôi. Do đó tổ chức ở Đại Việt mang một hình thức thụt lùi về thời gian cũng như thực tế so với ở Trung Quốc. Ví dụ như sự phân chia hành chính thời Đinh Lê với đơn vị Đạo chỉ là dấu vết còn lại của thời Đường chia đế quốc to lớn của họ thành 10 Đạo. Cho đến khi Lí thấy ra nhà Tống đã đổi thành 24 Lộ liền cũng chia theo mà chừa phần phía nam khó quản trị ra ngoài. Việc các sử gia ngày nay cố công tìm trong sách xưa về tên những đạo, lộ sao cho đủ con số 10 hay 24 thật cũng như các sử gia sau này cố tìm xem trong 30 năm DCCH, Quốc hội Việt Nam đã ban hành những đạo luật nào, tranh cãi ra làm sao!

Cho nên Lí Thái Tổ lúc mới lên ngôi, ngoài việc lo chia chức tước cho người thân cận và trong gia đình, đặt một Thân Vương Ban trên cao, còn cho lập một hệ thống quan lại mới, hiện diện rất thường xuyên, với vai trò quan trọng, đa năng vì có nguồn gốc phức tạp: tầng lớp Viên ngoại lang. Đây là hình thức quan chức Trung Quốc lập ra theo nhu cầu cai trị thực tế từ xưa nhưng ảnh hưởng đến Lí thì hẳn là của thời thuộc địa, từ đời Đường Trung Tông (706) mà nghĩa của danh xưng tự nó đã nói lên vị trí: Đó là một ngạch quan ngoài vòng chính thức, một thứ quan “ngoại ngạch.” Dấu vết “trí thức” trong thời Lí của họ rất rõ: Suốt đời Thái Tổ, Thái Tông, họ được liên tục phái đi sứ báo tin triều mới, cống nạp, xin kinh Phật, được làm quan xử án cho đất kinh đô (1067)… Lúc đầu thì chỉ là những xuất hiện cá nhân, đến thời Thần Tông lên ngôi (1128), triều đình đã đặt họ vào tổ chức chính thức hẳn hòi, nghĩa là không còn tính cách “ngoại ngạch” như hồi khởi thuỷ nữa. Các quan chức sau đó khi được kể ra không phải với danh xưng bỗng dưng như trước mà có ghi kèm việc phong “làm viên ngoại lang” (1129, 1137).

Dõi theo cách sử dụng và tiến trình làm quan, có vẻ họ là những người gốc Đại La cũ hay cũng vì là ở Đại La mà có liên hệ giao thiệp, buôn bán với vùng Nam Trung Hoa như lời vua quan Tống xác nhận có thân thuộc đất Mân (Phúc Kiến) giúp nhà Lí rất nhiều. Có một Tiến sĩ Từ Bá Tường của Tống, xúi Lí đánh Tống thì chuyện có nho gia khoa bảng Trung Quốc làm quan Lí không phải là điều lạ. Với hai nguồn gốc này, ta mới hiểu tại sao xảy ra tình hình trong chuyến hai viên ngoại lang đi sứ Tống đầu tiên (1011), một người đã trốn ở lại, không được và bị sai đánh chết. Rõ là người này coi việc đi sứ chỉ là bất đắc dĩ, hay chỉ coi đó là một cơ hội để “vượt biên” về quê, không ngờ nước lớn nhút nhát đang lo ở biên giới phía bắc không muốn mất lòng phương Nam nên trả lại sứ trốn. Người thứ hai, Lí Nhân Nghĩa, hoặc có tâm thành hơn, hoặc thấy gương đó nên cố công cùng sức phục vụ, đem nghĩa lí kinh sử làu thông giúp Thái tử Phật Mã có tự tín để lên ngôi, rồi khi vua đi dẹp loạn (1028) lại được giao quyền giữ kinh đô, công việc thường thấy về sau là trao cho người sẽ kế nghiệp. Vì thành phần xuất thân xa rời ruộng đất như thế cho nên ta hiểu tại sao Lí Thánh Tông khi bổ hai viên ngoại lang làm kẻ coi việc kiện tụng ở vùng kinh đô (phủ Đô hộ) đã “cấp bổng” bằng tiền, gạo, cá muối, gọi là để “nuôi đức liêm khiết cho họ” trong khi Lí không hề phải trả lương cho quan chức khác.

Thái Tông sắp xếp một hình thức quản trị mở rộng không chỉ có võ quan mà còn có văn quan, ban bố Hình thư, giữ được một chừng mực kỉ cương xã hội khả quan hơn trước. Tuy nhiên nhìn chung thì cốt lõi quyền lực là nằm trong gia tộc Lí tỏa ra trên phần đất họ vươn được cánh tay quyền lực đến nơi. Lê Tắc cho thấy cùng một danh vị mà người hầu cận được gán thêm một chữ “nội”, người ở-nhà-trong. Và người điều hành việc nước thực sự với chức Hành khiển là một hoạn quan, nghĩa là nhận lệnh từ bên trong cung đình. Rồi quan niệm quân quyền, vương thổ vay mượn giúp Lí tạo dáng vẻ hào nhoáng khiến quan chức bên ngoài cũng mang một thứ hấp dẫn, và cả quyền lực thực sự do yêu cầu của tổ chức diện địa tạo nên. Nhìn dấu vết thăng trầm của một ông quan có vai trò quan trọng vào thời thịnh trị của Lí là thấy rõ tương quan phức tạp của thứ bực trong ngoài, gần xa đó. Lê Bá Ngọc, người cuối cùng được phó thác việc chuyển ngôi báu, trước 1118 là Thị lang bộ Lễ của triều đình, năm đó bị “biếm” làm Nội nhân thư gia là một thứ tay sai trong nhà, ba năm sau rõ ràng đã thăng chức nhưng còn là Nội thường thị trước khi trở lại chức vụ cũ bên ngoài (1124). Sự truân chuyên như thế lại là điều may mắn cho ông về sau: Từ kẻ ở-nhà-trong ông mới được giao trọng trách giữ an ninh cho việc truyền ngôi đầy biến động với sự tranh giành bên trong giữa gia đình anh em chú bác, với thế lực dòm ngó bên ngoài của thế lực địa phương (vụ Giác Hoàng.) Tổ chức bên trong quan trọng nhất là hệ thống Thư gia. Hình như hệ thống này không có ở Trung Quốc nhưng rõ là rất hợp với tổ chức gia đình / cung đình Lí với tính chất ông Chủ ruộng Lớn, hoàng đế điền chủ. Không thể có một giải thích cạn lí nhưng nhìn tên các thư gia, ta thấy đó là một tập họp người lo quản lí việc trong cung, hầu hạ tạp dịch, có người mang lệnh truyền ra ngoài, có thể lúc đầu chỉ đến các quan chức trong triều nhưng theo với thời gian, đó là những Trung sứ mang lệnh đến tận các địa phương. Có thư gia chuyển ra coi hình ngục như trong cải cách 1067. Có tập nhóm coi kho, các kho thấy xây cất rải rác khắp nơi, hoặc minh danh trong sử hoặc ngầm hiểu qua các xây cất hành cung hay ở các chuyến vua đi xem gặt, thu hoạch. Có thư gia đi sứ nước lớn…

Việc bận rộn quản trị đất đai, canh tác khiến Lí phải mở ra những khoa thi tuyển lại viên, biết làm tính toán, hay cho chen vào các cuộc thi lớn những mục khảo hạch về viết chữ, làm tính, những điều không hề thấy ở các triều đại về sau. Lệ về tiền thưởng “hoành đầu” (1042) để khuyến khích tận thu đồng thời cũng ngăn ngừa lạm dụng, cho thấy việc thu thuế giao cho người trực tiếp với nơi có ruộng đất (“người thu thuế”), lãnh chúa địa phương (quản giáp) với binh lực trung ương (chủ đô) yểm trợ. Tô thuế trực tiếp trên đất đai nhà vua khá nặng (300 thăng/mẫu) so với trên đất quản trị gián tiếp qua chủ đất địa phương (lệ ban ra lần đầu 1092: 3 thăng/mẫu). Nhưng với dân chúng phải chịu qua cả tầng thuế của địa phương mà Lí nhường lại để đánh đổi sự phục tùng của chủ vùng, thì rõ ràng là quá sức chịu đựng. Lời tướng Triệu Tiết của Tống tâu với triều đình cho ta thấy hình ảnh đó: “Những nhà hạng vừa và hạng dưới mỗi năm nộp trên trăm quan, Chúa lớn lấy bốn phần mười, còn bao nhiêu là về các thủ lĩnh.” Chúng ta gần như không biết gì về cuộc sống, xã hội dưới quyền các lãnh chúa nhỏ, chỉ dựa theo lời tâu trên thì dân phải bán cả tài sản vợ con mà vẫn không đủ cung phụng cho người trên. Riêng với Lí thì những người phục dịch đều coi như, hoặc gần như là quan nô (của vua.) Các tập họp công nghệ, tạo tác, cả đến quan chức binh lính cũng không thấy thứ bực cao hơn tuy có lẽ vì vị thế phục vụ cho vua mà còn được đứng trên tầng lớp gọi là “điền nhi” (làm ruộng công – của vua), “khao giáp” (thưởng cho lãnh chúa nhỏ?), “lộ ông” (tạp dịch ngoài biên?)…

Bên ngoài vòng quyền bính trực tiếp của Lí là của các hào trưởng, lãnh chúa địa phương, như đã thấy với những mức độ tuỳ thuộc phức tạp khác nhau, lợi dụng lẫn nhau. Trong khuôn khổ của trung châu phủ Đô Hộ cũ thì có Lê Phụng Hiểu bị rứt khỏi quê gốc khi dời đô, có Lê Văn Thịnh, Mạc Hiển Tích với danh nghĩa tuyển chọn văn học riêng biệt chỉ lấy một người đỗ (1075 và 1086.) Quanh gia đình vua là các “hầu tước,” “tư gia,” “nhà quyền thế” (1157 ĐVSL), các “vương hầu,” “công chúa,” “các quan” (?) (Toàn thư). Bên dưới, có một chừng mực tự do, với khả năng vật chất riêng là “bách tính,” “các sắc nhân,” tuy cũng có những đại tộc trong bách tính bị buộc vào tổ chức binh Vũ Thắng – cao hơn điền nhi làm binh Thiết Lâm. Điều này thì cũng dễ hiểu vì những người “lính” này phải có tiền mới có thể tự cung ứng những nhu cầu mà ông vua hay ông chúa nhỏ không cấp phát đầy đủ như các chứng cớ ở thời đại về sau làm nổi rõ lên. Tướng đủ tiền đánh giặc không cần của cướp bóc như Phạm Ngũ Lão, tướng của Hồ Quý Li lúc thất sủng đòi bán khí giới của mình. Còn Lê Thánh Tông thì buộc phải lấy lính từ những nhà có của… Gia nô vương hầu không được xăm hình rồng nhưng lại có thứ bực cao hơn bách tính, quan chức đô.

Bên rìa trung châu mà quyền hạn Thăng Long còn với tới thì vừa có quan của trung ương vừa có “thủ lĩnh” phải kết thân như trường hợp phủ Phú Lương có Trung thư Lí Hiến (1125), Nguyễn Quyền (1149) đồng thời với một Phò mã hai-lần Dương Tự Minh (1127, 1144). Có độc lập riêng biệt đến mức chống đối thẳng thừng như tập họp Nùng Trí Cao gây nên chiến tranh cả với Tống (1038-1053) trong khi “thủ lĩnh” Quảng Nguyên là Dương Tự Hưng hối lộ hươu trắng (1124), “thủ lĩnh” châu Nông là Dương Tuệ dâng vàng (1127), “thủ lĩnh” Hà Công Phụ của châu Vị Long cũng làm phò mã (1180 ĐVSL), còn “tiểu thủ lĩnh” Mạc Hiền chỉ biết trốn qua Tống mà không thoát (1124-1126). Danh vị “thủ lĩnh” càng xuất hiện nhiều vào cuối đời với sự suy yếu của dòng họ cầm quyền. Trường hợp tương tự họ Dương mà thế lực lớn hơn, là họ Thân vùng Lạng Giang kết thông gia với Lí để lấn Tống (1028). Ngược lại thì tập họp Nùng Tông Đản cuối cùng lại thiên về Tống sau khi hùa với Lí trong trận chiến xâm lăng 1075.

Chiến tranh Lí Tống có nguyên nhân xa là sự độc lập của phủ Đô Hộ An Nam khiến phải giải quyết vấn đề biên giới của hai châu Giao, Quảng cũ vốn là mù mờ nhưng không gây căng thẳng lắm một khi còn thuộc chung một chính quyền. Thế rồi cánh tay quyền lực Lí vươn lên phía bắc rõ rệt khiến động chạm đến chủ quyền vùng biên giới, là khi Lí Thánh Tông (1056 ĐVSL) đổi chức Đại thủ lĩnh làm Thứ sử, nghĩa là coi lãnh tụ địa phương như một viên chức của triều đình Thăng Long, theo cách học hỏi được ở một triều đình Hán. Đó là những người có lúc được gọi là “châu mục”, như năm 1082 gả công chúa cho một người thuộc tập đoàn họ Hà ở Vi Long, thời trước là dòng chống đối từng bị đánh giết. Lí dùng thế lực của họ để thu phục tập đoàn thiểu số khác như năm 1142 dùng thủ lĩnh phủ Phú Lương đi chiêu tập dân Quảng Nguyên. Dù có những sứ bộ ngoại giao tìm cách liên hệ, xin Kinh lấy cảm tình cầu cạnh (của Lê 1009, của Lí 1010, 1011, 1012, 1020) nhưng những cuộc xung đột biên giới ở trấn Như Hồng đã có từ thời Lê Hoàn nay lại tiếp diễn (1022) cùng với các xung đột mới (1028, 1036). Chưa kể với nhóm Nùng Trí Cao và các thủ lĩnh biên giới chạy qua chạy lại trốn tránh hoăc nhờ cậy quyền lực che chở của một bên, lúc gây bùng nổ bất an, lúc phải bực tức nén lòng dàn xếp.

Nhưng lí do quyết định có lẽ là xung đột về vấn đề buôn bán vào thời gian phe chủ chiến nắm quyền ở cả hai quốc gia. Bắt được ngựa của Nam Chiếu (1014), Lí Thái Tổ “cống” chiến lợi phẩm để khoe uy lực của mình. Có thể là trong trường hợp xung đột tương tự mà Lê Văn Thịnh có được “gia nô người Đại Lí.” Khi Nùng Trí Cao lấn đất Tống, Lí đề nghị đưa quân giúp đánh dẹp (1049). Phía nội bộ Tống thì những cải cách của Vương An Thạch gây khủng hoảng cũng khiến thành phần chủ chiến muốn gây sự ở phương nam. Quan biên thuỳ cấm giao thương với Đại Việt, thế là mâu thuẫn nổ bùng. Lớp thương nhân đất Mân, đồng hương với tộc Lí đã giúp Lí tổ chức chính quyền, lúc này bị mất quyền lợi nên xúi Lí gây chiến tranh. Lí vừa có chiến thắng Chiêm Thành (1069), quyền lực đã tập trung (1073) vào tay một người phò tá ông vua bé con. Thế là Lí Thường Kiệt ra tay trước, tam cá nguyệt cuối năm 1075, cùng các thủ lãnh thiểu số Nùng liên kết “kéo hết cả nhà đi theo, chỉ còn một vài người ốm yếu ở nhà,” đem chính quân lấn qua châu Khâm, Liêm, vây châu Ung hãm thành, giết tướng (đầu 1076) rồi rút binh chờ đón quân Tống đuổi theo chân. Trận chiến lại xảy ngay trên đất Đại Việt, và Tống lại gặp phải những cản trở mà họ từng tính toán cho khỏi vướng vào nhưng vẫn không tránh khỏi: sức chiến đấu của quân Đại Việt, địa thế, khí hậu bất lợi cho quân xâm lăng. Tống rút quân tháng 2âl. 1077 để bắt đầu những thương lượng củng cố một chừng mực ổn định biên giới với thuộc địa cũ nay đã tách ra vững mạnh.

Một giai đoạn tiếp theo của nhà Lí với ông vua bé con trưởng thành trong thời bình (Nhân Tông, sinh 1066, cầm quyền 1072-1127) ghìm giữ hung hăng, đã đem lại mọt chừng mực ổn định cho thể chế tông tộc cầm quyền. Tuy Lí Thường Kiệt cho đến khi mất đi (1105) vẫn là khuôn mặt nổi bật nhưng như đã phân tích, tính chất tôn quân đã thành hình nên ông không thể là tay đảo chính mà vẫn chỉ là người phụ tá, dù là với danh nghĩa đặc biệt: Thiên tử Nghĩa đệ. Lí thuyết cai trị được đưa vào một cách nghèo nàn, từ khởi điểm trong việc mở Văn miếu thờ Khổng Tử mà làm luôn là nhà học cho cậu bé Hoàng thái tử (1070) để sau này vua biết làm thơ (1087). Các khoa thi chọn người văn học buổi đầu tuy có dáng hình thức như đã nói nhưng cũng là khởi đầu để có những người tham dự về sau đông hơn, có chất lượng hơn và mang dáng vẻ tranh đua hơn trong các khoa mệnh danh là Minh kinh, Tam giáo. Từ đó, triều đình Lí mới có người từ nội cung đi ra các địa phương đem quyền lực dòng họ hiện diện sâu hơn.

Nhưng có tác dụng mạnh hơn cả lí thuyết là sự hiện diện của ông vua đi khắp nơi trong vùng ruộng quản lí của mình, có mặt từ những dịp đắp đê ngăn đập, từ cày cấy cho đến gặt hái, với những xây cất chùa tháp in dấu lâu dài, sừng sững trước mắt người dân. Sự quan tâm đến ruộng đất tỏ rõ trong những dòng sử ghi đến cả việc bảo vệ sức kéo (1117, 1123, 1143), có sự tham gia của bà Thái hậu xây cất chùa chiền vừa như một hành động “công đức,” vừa như một đóng góp mời gọi thần thánh bảo vệ cơ ngơi của con cháu, cha ông. Lí chiếm quyền nhờ một phần vào lực lượng tăng sĩ nên Lí Thái Tổ ban đầu có Hoàng hậu Lập Giáo với “quy chế xe kiệu khác hẳn các cung khác.” Lí Thái Tông là “con ngựa của Phật” (Phật Mã). Lí Cao Tông xưng ngay là Phật. Thế rồi, cải tổ từ bản thân, Lí Thái Tổ đẩy bà Lập Giáo xuống hàng thứ 3, thay vào bằng bà Tá Quốc. Nhân Tông đặt quan giám sát chùa lớn, nhỏ. Tuy nhiên Phật Giáo Lí không duy nhất một dòng Thiền như người ta vẫn tưởng. Dõi theo dấu vết để lại thì nó lẫn lộn tính chất Ấn Chàm, Đạo Giáo và mang thêm hình thức phù thuỷ từ tin tưởng vu đồng trong dân chúng đương thời. Bà Chúa Xứ ngự ở đàn Viên Khâu thờ Trời có các sư đến cầu mưa. Hoàng đế rất dễ bị kẻ mang phù phép phỉnh gạt. Họ sợ sấm sét ôm cánh tay Phật mà nhờ tăng sĩ cầu tự theo phép tự bản thân người phù thuỷ tham gia việc sinh sản. Quan chức cho người lùng tìm vật lạ mang điềm lành để được thăng thưởng. Và do đó đã xảy ra việc họ Lí suýt mất ngôi chỉ vì Nhân Tông được tiến cử một đứa bé quái dị tên là Giác Hoàng (“Phật”), sự việc ghi lại (1112 ĐVSL) hé mở cho thấy một thời tranh chấp ở nội cung vào giai đoạn thịnh đạt của vương triều. Ngô Sĩ Liên bỏ qua sự kiện thần bí này càng chứng thực rằng nó đã có thật.

Sự phát triển tương đối trong thời Nhân Tông đã làm căn bản ổn định cho các triều vua tiếp theo. Thời Thần Tông (1128-1138), Anh Tông (1138-1175), vẫn có vài biến động lớn bên ngoài như cuộc nổi loạn của Lí Giác (1103) trên đất “trại” Thanh Hoá bên rìa quyền lực, và trường hợp đánh động Ma Sa (1083 ĐVSL, 1119) hẳn là vì dòng tộc Thái tràn lấn xuống. Tuy nhiên ngay chính việc khai thác đất đai cũng khiến ông hoàng đế điền chủ phải đụng chạm đến các thế lực khác, không nệ cả đến sự cần thiết phải có mặt họ trong triều. Nhân Tông năm 1123, khi đến đất Ứng Phong xem gặt từng sai bắc cầu qua sông để mở rộng thêm lãnh địa. Cho nên có thể hiểu vụ trả lại đất ruộng giáp Bối Lí cho con cháu Lê Lương (1093) theo “lời xin” của hai Phò kí lang họ Tô, họ Thiều đối với vua chỉ là sự bất đắc dĩ. Chức tước cao của hai người kia làm nổi bật quyền lực thực tế của thân tộc Lê: sư Đạo Dung từ đất gốc của cha ông, đi tìm vây cánh tăng đạo đến tận Thăng Long, Thái phó / Thái uý Lưu Khánh Đàm có đất “thật phong 3000 hộ” trong vùng, có vẻ chia từ của Lê Lương, và cũng là người được Nhân Tông trao di chiếu (1127). Cho nên yêu cầu trả ruộng đã được thoả mãn. Chỉ một phần, vì Lí Thường Kiệt không trả hết cho chủ cũ mà xén một nửa, dành nửa kia cho đối thủ khác để họ ghìm nhau. Đất của con cháu Lê Lương có liên hệ gì với Lê Văn Thịnh, một người cũng được cho là cùng dòng họ? Như thế thì cái án gọi là Âm mưu giết vua trên hồ Tây năm 1096 hẳn có lí do sâu xa là vụ tranh chấp ruộng đất với ông vua tham điền thổ đang vất vả chạy ngược chạy xuôi trông coi cơ nghiệp của mình. Sự thất thế của ông Thái sư trong triều (1085) đầy công lao trong các cuộc điều đình thành công với Tống (1084) thật dễ hiểu, cũng như việc ông bị đày mà không bị “lên ngựa gỗ,” chỉ vì từ cái thế khiến vua phải trả một nửa tài sản cho con cháu Lê Lương vậy. Và cũng dễ hiểu là Lưu Khánh Đàm, một người khác thuộc dòng Lê Lương, được xác nhận chủ quyền đất đai và lên làm Thái phó (rồi) Thái uý thay thế Lê Văn Thịnh thất sủng.

Thần Tông sau khi lên ngôi đã trả lại ruộng đất bị ông cha nuôi chiếm đoạt (“sung công”), và giải phóng cho người làm điền nhi (1128) – đó là những kẻ nếu không phải chủ ruộng thì cũng có thân phận gắn bó trên các mảnh đất ấy. Tuy nhiên sự từ bỏ ruộng đất đó làm mất căn bản vật chất đã tạo ra quyền lực cho nhà Lí. Và rối loạn nội cung thời Nhân Tông cũng báo hiệu những biến động lớn về sau làm nổi bật vai trò của các dòng nữ trong triều, với quyền lực truyền thống trở lại trong tình hình mới. Nhân Tông mất đi, cái đà hưng khởi còn nuôi sống triều đại một thời gian nữa như đã nói, nhưng dấu hiệu khủng hoảng đã thấy ló dạng như bước về chiều của hệ thống vương triều phương Đông mà Lí đang bắt chước.

Trên đà cuối đường của một tiểu vương triều phương Đông

Một khuôn mẫu khi được áp dụng vào các nơi khác tất phải chịu biến đổi theo thực tế mới ràng buộc nó nhưng vẫn còn các yếu tố đồng dạng khiến ta dễ nhận ra tính chất chung của chúng. Sự thăng giáng của các vương triều Trung Quốc do đó lại cũng thấy ở Việt Nam như một trong những dấu hiệu liên hệ văn hoá không vượt thoát được.

Đặt quân vương ở ngôi vị tột đỉnh, thần thánh hoá trong một chừng mực, lí thuyết đó đã khiến cho ông vua của vương triều phương Đông bị cô lập. Cô lập thực tế bằng các vòng thành nhà cửa khiến sau này các ông vua đầu Trần chưa quen “làm vua” phải thường “đi vi hành,” còn ông hoàng tử thì chạy ra ngoài ăn cướp. Cô lập thêm bằng hệ thống nội đình như sự kiện năm 1134 có lệnh cấm chi hậu, nội nhân, hoả đầu không được tự tiện ra ngoài, do đó vòng quyền hành còn thu hẹp hơn, thực tế đã rơi vào tay các thái giám. Chút khác biệt của thực tế Đại Việt là hoạn quan thực sự là “quan”, làm hành khiển điều khiển bên trong, cầm quân bên ngoài (chứ không phải chỉ thậm thụt qua vua, làm giám sát như của Hán, Minh) nhưng lại giống ở chỗ không đủ tư thế cướp quyền cho dòng họ mình. Lí có cả một tập đoàn những lãnh chúa mà họ đã thu nhận vào kinh đô và vẫn còn thế lực bên ngoài như đã nói. Tiến trình thu tóm quyền lực của các ông vua đầu khiến các cựu “hương ấp quan” này im tiếng nhưng với thời gian, họ gượng dậy gây quấy đảo loạn động ban đầu bên trong triều đình. Và cũng lại khác Trung Quốc, ở đây chỉ là sự gượng dậy nên họ không đủ thế lực để cướp chính quyền. Gốc gác phần lớn nhỏ bé của họ khiến họ lo o bế phục vụ, kèn cựa theo tình thế hơn là tìm vây cánh để tính chuyện lật đổ.

Các họ Quách (có Lí Thường Kiệt), họ Tô (Tô Hiến Thành) chỉ là những họ bám theo quyền lực của Lí, có thể từ lúc ban đầu nhưng theo với thời gian đã nổi lên bền dai hơn họ Đào của Đào Cam Mộc, người gây cơ nghiệp cho Lí Công Uẩn chẳng hạn. Những tông tộc bên lề trung châu chỉ lo giữ đất mình, khi chịu làm quan trong triều thì tuy có dáng nắm quyền bính nhưng thật ra là ở thế yếu như Lê Văn Thịnh, Lưu Khánh Đàm đã nói – kể cả Mạc Hiển Tích của họ Mạc có những người cùng bộ tộc bị truy đuổi hồi đầu đời. Trường hợp họ Phùng, thấp thoáng thấy lúc đầu với Viên ngoại lang Phùng Chân đi sứ Tống (1014), với Điện tiền chỉ huy Phùng Lộc cùng dòng họ Đinh chống đối, bị giết (1041) nhưng còn Phùng Trí Năng cầm quân đánh Ai Lao (1048), cuối cùng có Phùng Tá Chu giữ vai trò quyết định trong việc thuyết phục họ Trần chiếm quyền (theo nhận xét của Ngô Sĩ Liên.) Những họ tên người liên tiếp đó, có lúc đã khác địa phương tuy không được ghi dấu vết liên hệ nhưng cũng gợi ý về vai trò thực tế của các tông tộc cũ gần kinh đô. Như họ Đỗ trên địa vực có tên là Vùng (họ) Đỗ / “Đỗ Động” đã nói. Tập họp thất bại khi chống đối Đỗ Anh Vũ năm 1150 có phò mã Dương Tự Hưng bên lề trung châu, và Đàm Dĩ Mông sau này (1210), xuất sắc trong nhận định thời thế, làm cha vợ vua mà vẫn còn bị một người họ Đỗ (Đỗ Anh Triệt) mắng chửi và sử quan theo hùa chê trách. Họ Đỗ lúc nổi bật, lúc chìm lắng nhưng hiện diện bền dai thật nhiều suốt triều Lí. Từ lúc đầu, những khi Thái Tổ, Thái Tông thu xếp khi lên ngôi, các quan chức đều có người họ Đỗ. Đỗ Giản có mặt trong lần phong chức đầu tiên của Lí Thái Tổ giữa phần lớn là thân thuộc, người phe cánh của vua, rồi với đời sau, Đỗ Hưng đã lọt vào vòng Thân vương ban (1039) tột đỉnh để thêm một bằng chứng về thế lực lâu dài của họ.

Mối liên kết vây cánh bằng quan hệ thông gia không làm cho các tiểu thủ lãnh vùng ngoại biên can thiệp được vào việc triều chính trong lúc thân tộc thông gia gần Thăng Long chiếm ưu thế, chồng thêm với một truyền thống thiên về dòng mẹ cũ. Thái Tông lúc lên ngôi đã phong cho ba người cha vợ các chức mang ý nghĩa tôn trọng: đó là những “Thượng tướng” An quốc, Phụ quốc, Khuông quốc làm sử quan Ngô Sĩ Liên ngạc nhiên và bất bình. Họ Đỗ sẽ nổi bật lên khi dòng chính gặp khủng hoảng. Nhân Tông không con (chính thức?), nhờ thần thánh can thiệp trong vụ Giác Hoàng đã gặp chống đối, tình hình giống như là đã có sự tranh giành giữa các hệ phái Phật Giáo đương thời mà mỗi bên đều đi tìm một quyền hành thế tục nâng đỡ. Người cha (Từ Vinh) chống đối với phe Đại Điên, thất bại, người con, Từ Đạo Hạnh thành công, và trong trường hợp này là chống đối với những người đứng sau nhân vật Giác Hoàng. Đạo Hạnh thoát chết nhờ Sùng Hiền hầu, một trong bốn ứng viên có con chờ nối nghiệp Nhân Tông. Rốt cục phe Giác Hoàng bại và con Sùng Hiền hầu lên ngôi: Thần Tông. Người thắng thế có vợ họ Đỗ, nghĩa là liên kết được với tông tộc Đỗ, đẩy lùi được ảnh hưởng địa phương, vùng Trại! Thấp thoáng ngay từ đầu đã có Đỗ Thiện từ cung đình đi báo cho cha mẹ ruột biết có việc truyền ngôi – Đỗ Thiện mang chức “nội nhân” khiêm nhường nhưng là tác giả của bộ Sử kí hư ảo, bằng chứng khả năng trí thức khiến hai năm sau đó có thể đã được lên chức trông coi phủ Thanh Hoá (1129), đề phòng phản ứng tiếp theo.

Có tranh giành nên việc truyền ngôi đã diễn ra trong một tình thế căng thẳng, giống như một vụ phòng chống đảo chính ở đời sau, được thực hiện bởi một người nắm quân lính nội bộ. “Hoàng thái tử lên ngôi trước linh cửu” (Nhân Tông), cửa thành đóng chặt, có cấm quân cầm binh khí trước điện Thiên An nơi vua ra triều, rồi mở cửa ngách cho vương hầu văn võ vào chịu mệnh, chận trước mọi phản kháng. Chỉ chưa được một tháng, vua mới đã bỏ áo tang khiến sử quan chê trách về việc các quan đương thời không biết phép tắc, “Lễ” nghĩa theo cách ông ta học được. Tuy nhiên rõ ràng sự việc đã giống như người ta muốn xoá gấp quá khứ Nhân Tông để dựng lên một thời mới, muốn đặt mọi phản kháng nếu có, như trước một sự đã rồi không thể quay ngược lại được. Ý nghĩa “dứt khoát” đó nằm trong việc Sùng Hiền hầu sau này được phong làm Thái Thượng hoàng, mẹ họ Đỗ làm Hoàng thái hậu chứ không dành chức danh đó cho ông bà bác Nhân Tông như Lê Văn Hưu đã không hiểu mà buông lời chê trách.

Và tiếp theo, có vẻ như biến cố đã phức tạp hơn là lúc khởi đầu. Không phải chỉ là một sự tranh ngôi mà còn có toan tính nắm quyền trên phe chủ mới nữa. Di chiếu được trao cho Thái uý Lưu Khánh Đàm (chết: 1136), một người của dòng Lê Lương như đã nói. Sử quan dùng chữ “hạ lệnh,” “sai” Lê Bá Ngọc nhưng rõ ràng ông “Nội” Vũ vệ này nắm binh quyền, đã tự động làm mọi việc. Cha ruột ông vua mới cũng chỉ được thông báo khi việc đã xong!

Lê Bá Ngọc trong triều mới, đầu năm 1128 lên chức Thái uý nắm binh quyền thực thụ đối với cả nước, thăng tước Hầu, nghĩa là nằm ở tập họp chót vót của xã hội, ngang với cha ruột vua, lại thu xếp cho người cháu làm vợ vua, đường danh vọng từ đây tưởng đã suôn sẻ như ngụ ý trong lời sử xưa. Thế mà cho đến khi chết (1135) ông chỉ có thể bằng lòng với bấy nhiêu thôi vì có sự cạnh tranh của các thế lực khác. Chức Thái uý còn thấy trong tay Lưu Khánh Đàm, lại đã vào tay người mới: Dương Anh Nhĩ. Thân vương Lí lúc đầu có người bị biếm chức vì một lỗi an ninh nhỏ (Lí Sùng Phúc) nhưng thân vương Lí Công Bình đánh thắng giặc ngoài biên kéo quân về tháng 3âl. với tù binh, đã chận được quyền lực Bá Ngọc. Có hội thề trung thành với Lí tháng 6âl., trong tháng 8, việc chọn người cầm đầu các đơn vị lính vào tay Lưu Khánh Đàm và Mâu Du Đô (nổi bật trong triều sau, chết 1146) chứ không phải Lê Bá Ngọc. Cảnh các quan tranh nhau đi tìm hươu trắng, vật lạ dâng lên vua cũng thể hiện một sự cố kết quân quyền chưa vuột khỏi tay họ Lí. Cho nên chỉ mới sau một năm cầm quyền (cuối năm 1128), Bá Ngọc được đẩy lên giữ chức Thái sư ở tột đỉnh triều chính, còn mang thêm họ Trương với uy thế thần thánh Đạo giáo nhưng đó là dấu hiệu sa sút quyền lực. Trong khi đó họ Đỗ lại chứng tỏ thêm năng lực dài hơi trong vụ đối phó với một thủ lãnh ngoại biên.

Hai năm 1140-41 (1139 ĐVSL) có loạn Thân Lợi suốt một vùng rộng lớn phía bắc mà nhân vật chinh phạt chính là Đỗ Anh Vũ. “Ông” Thân Lợi trong sử / “Thằng” Suy trên bia Đỗ Anh Vũ, “tự xưng là con Nhân Tông,” nhờ cậy vương triều Đại Lí ở Vân Nam, mượn họ Triệu của nhà Tống, khi thất bại đã rút về vùng căn cứ của họ Thân thông gia với Lí. Như thế họ Thân của “thằng Suy” không phải là vô cớ xuất hiện mà có thể đúng là từ họ Thân mà Lí từng kết thông gia, cũng như danh vị shaman “thầy bói” mà sử quan gán cho, đã chứng tỏ Lợi là một thủ lãnh rừng núi. Dẹp yên được chống đối bên ngoài xong Đỗ Anh Vũ phải lo đối phó bên trong (1150). Việc ông trai gái với bà Lê Thái hậu thì cũng thường như ông thái sư nào đấy với bà Đỗ Thái hậu Chiêu Linh (chết 1190), nhưng vụ đảo chính thất bại chứng tỏ thế lực họ Đỗ là khuynh loát trong thời bấy giờ. Tất nhiên trong tranh chấp thì cũng có kẻ của thế lực lớn rủi ro chọn lầm phe, hay bị đẩy vào thế thất bại như các thân vương Lí, một ông phò mã, hay một người họ Đỗ trong vụ này, người họ Tô, họ Đỗ “mưu phản bị giết” trong vụ khác (1109). So sánh với họ Đỗ thì Tô Hiến Thành cũng tham gia vào việc dẹp Thân Lợi nhưng với vai trò nhỏ hơn. Sử quan vạch tội Đỗ Anh Vũ rất nhiều nhưng bia đá của Đỗ thì rất đề cao ông ta, danh vị còn rất lớn sau khi chết nếu ta tin rằng “đền Đỗ thái uý” trong cuộc hội thề trung thành với Lí năm 1214 là đền thờ ông. Trong khi đó Tô không có gì tương tự để lại ngoài những tán tụng của sử quan. Có một người họ Tô làm vợ Anh Vũ, nhưng Tô Hiến Thành sau này tuy ngăn được bà Đỗ Thái hậu khác lập người con trưởng làm vua, vẫn phải chịu để “em trai Hoàng thái hậu” (họ Đỗ) làm quan đầu triều (1175) với đội Cân Xa nhi bắt người hiệu quả hơn nhân viên bộ Hình.

Những rối loạn bên trong cung đình vẫn chưa làm suy sụp triều đại trong khi áp lực phía Bắc đã nhẹ đi và các thế lực địa phương thì chưa kịp trỗi dậy. Cha con Tống Huy Tông, Khâm Tông bị Kim bắt đưa về sa mạc năm 1127, Cao Tông phải bỏ chạy về nam lập triều Nam Tống, vẫn phát triển được một vùng thương mại phồn thịnh nhưng thế lực suy yếu hẳn cho đến khi bị Mông Cổ tràn ngập. Trong tình thế đó Tống phải chiều chuộng Đại Việt, nâng cấp cho nước phiên thuộc, phong Lí Thần Tông làm (Giao Chỉ) Quận vương (1131 ĐVSL) như một sự nhắc nhở và năm 1164 lại coi Lí Cao Tông là An Nam Quốc Vương, chủ “nước” An Nam (An Nam chí lược; ĐVSL: 1174; TT: 1186 với Anh Tông, muộn hơn). Áp lực phía bắc nhẹ đi khiến Lí có đủ sức để đối phó với những biến động lấn ra của các nước phía nam: Chiêm Thành và Chân Lạp.

Từ khi Yan Po Ku Vijaya Sri (“Đức vua Tôn quý Thắng lợi,” Lương Ninh dịch) dứt khoát rời bỏ Indrapura quá gần sự đe doạ của Đại Việt để đi về phía nam, xây dựng đô mới mang tên hiệu của mình thì vương quốc Chiêm Thành được thêm một trọng tâm phát triển rực rỡ, kéo dài đến vài thế kỉ. Người ta lại cũng vẫn đang tranh luận xem vương quyền Chiêm Thành có tính chất tập trung thống nhất không, hay chỉ là những tập họp liên minh với một hay nhiều trung tâm khác nhau. Sự thật thì với chung một ảnh hưởng văn hoá Ấn (trực tiếp qua người hay gián tiếp qua các vùng trung gian) có thể nói dân nước Chiêm Thành đã mang dáng vẻ đồng nhất rõ rệt ở các công trình xây cất còn lại dù trong quá khứ nó được tạo dựng do lãnh chúa địa phương. Trung tâm Mĩ Sơn được xây dựng qua nhiều thế kỉ bởi các ông chúa phía đồng bằng gần đó đã đành mà còn từ các ông chúa ở xa, vươn được quyền bính đến trong vùng này một cách không có dáng gì là bền vững lắm cho dù có người, như Harivarman IV (ở ngôi 1074-1081) ghi trên bia, hãnh diện là kẻ có cha thuộc tộc Dừa (Bắc), mẹ thuộc tộc Cau (Nam) nghĩa là đại diện được cả chiều dài vương quốc. Thế mà người tiếp theo tranh ngôi vị của cháu, vẫn phải lo đàn áp một cuộc nổi dậy ở Panduranga.

Về phần Đại Việt, những cuộc lấn đánh chỉ mang tính chất bắt người, lấy của, có ảnh hưởng đến sự tàn tạ ở vùng biên giới thuộc Lâm Ấp cũ chứ không ngăn sự hồi phục của trung tâm Vijaya. Chứng cớ là sau khi Sạ Đẩu bị giết thì người kế nghiệp vẫn đủ sức chinh phục vùng Phan Rang (1050) với cái bia không khác lời Lí Thái Tổ nhận xét về châu Diễn: “Dân xứ Panran thì hư hỏng, xấu xa, dốt nát, luôn luôn nổi loạn chống lại các vua cai quản đất nước Champa…” Lí Thánh Tông vét tù nhân Chàm về làm ruộng không ngăn được sự trỗi dạy của Harivarman IV. Ba châu Địa Lí, Ma Linh, Bố Chính được Chế Củ nhường để chuộc mạng nhưng vẫn bị xâm phạm khi Lí gặp khủng hoảng như lúc Lí Giác nổi dậy cầu cứu Chiêm Thành (1103, 1104). Tất nhiên, vương triều Chiêm Thành dựa trên ý thức thần quyền mượn của Ấn Độ cũng có một chừng mực tổ chức trên dưới với Tể tướng (adhipati – “Bố để/đề” của sử Việt), có vị trí Thái tử, người kế nghiệp (yuvaraya). Họ cũng phân bố những khu vực hành chính mà người Tống dùng chữ Hán để ghi: “châu”, “làng”, còn bia đá thì có các từ pramana, vijaya có vẻ như là những “tỉnh”, “khu vực.” Tổ chức hành chính không được chặt chẽ, lại không xuyên suốt, một phần vì địa thế cắt vụn của toàn vùng theo các lưu vực sông nhỏ khiến cho tính cách tập quyền của Chiêm Thành không có tính bền vững, chỉ tuỳ thuộc phần lớn vào những nhân vật chỉ huy nổi bật. Tranh chấp khiến có những phe phái thất bại chạy qua nước khác nương nhờ như thấy trong các cuộc tranh chiếm với người Khmer, hay được ghi trong sử Việt. Năm 1152 (ĐVSL: 1150), hoàng thân Ong Vangsaraja (Ung Minh Ta Điệp) liên kết với người Kiritas (miền núi), cầu viện Đại Việt chống vua chính thức. Lí Mông được lệnh đem quân Thanh Nghệ sang giúp bị Jaya Harivarman I (Chế Bì La Bút) đánh tan, giương danh công trận trong hai bia nam, bắc ở Phan Rang và Mĩ Sơn, đồng thời cũng khoe nô lệ Yavana (Việt).

Tình hình biên giới phía nam của Lí lại phức tạp hơn vì sự vươn ra của đế quốc Angkor với vai trò lấn lướt dưới triều Suryavarman II (1113-1150). Vị trí khởi phát của những người thành lập đế quốc Angkor là ở trung lưu sông Mekong nên việc hướng ra biển Đông để tranh giành hưởng lợi từ đó, cùng với mối liên hệ thương mại với nam Trung Quốc qua nước Nam Chiếu đã gây ra những va chạm với Đại Việt. Sử Tống từng ghi (1008) việc lái buôn Chân Lạp bị Đại Việt trục xuất chạy qua nương nhờ để tìm đường về xứ. Lí Thần Tông mới lên ngôi, quân Chân Lạp đã tấn công hai lần bằng cả hai đường thuỷ bộ (1128) và tiếp tục lần nữa năm 1137. Sự xung khắc quyền lợi xảy ra vào thời điểm chứa chấp nhiều mâu thuẫn khiến có khi Chiêm Thành liên kết với Chân Lạp đánh Đại Việt (1132), rồi đánh Chân Lạp gây ra cuộc chiến tranh xâm lược qua lại phối hợp kéo dài đến cả trăm năm, chỉ kết thức khoảng năm 1220 khi Chân Lạp phải lo đối phó với Xiêm lớn dậy phía tây. Trong cuộc chiến tranh “Trăm năm” đó, Chân Lạp chiếm đất Chiêm (1145) hoặc cai trị trực tiếp, hoặc thông qua những phe phái Chàm liên minh để phải chừa ra những vùng kháng cự khiến Chiêm phục hưng được (1149), thu phục dần các vùng bị chiếm, đánh bại những lực lượng phản kháng (ví dụ năm 1152 với Ung Minh Ta Diệp) rồi mở rộng cương vực (chiếm Amaravati / Quảng Nam năm 1151, Panduranga 1160). Họ tuy có cố gắng giữ hoà hiếu (gởi sứ bộ, kể cả gây tình thông gia hai năm sau khi dẹp nội loạn 1154) nhưng sức tràn lấn, ví dụ với quân theo “gió sóng” đến Ô, Lí năm 1166 không khỏi gây lo ngại cho Đại Việt. Thế là lại có cuộc tấn công trả đũa của Tô Hiến Thành năm sau. Đã có lúc (1177), thuỷ quân Chiêm Thành học được kĩ thuật tranh chiến tiến chiếm Angkor, giết vua Chân Lạp, nhưng rốt cục gặp phải chiến bại năm 1181 để người Khmer hãnh diện ghi chiến công của họ trên các bức phù điêu ở đền Bayon và Banteay.

Chiến tranh và chiếm đóng qua lại khiến có những kiến trúc ảnh hưởng của Khmer trên vùng Bình Định. Các tháp phần lớn đều xây trên đồi hay trên các gò cao. Tháp Hưng Thạnh có dáng của Angkor Vat (thế kỉ XII). Ba tháp Dương Long cũng chịu ảnh hưởng từ lối xếp thẳng hàng của Angkor Vat, đồng thời có dáng Bayon của Angkor Thom trên mô hình kiến trúc. Bức tượng Phật trên bệ rắn Naga tìm được ở tháp Bánh Ít mang phong cách Bayon cuối thế kỉ XII. Thế rồi lại cũng thấy cả ảnh hưởng Đại Việt. Chuyện thật cũng bình thường: Lí bắt người về xây tháp như Lê Tắc kể, sao lại không có dân Đại Việt xây đền cho Chiêm? Trong biến đọng dài lâu, các sự việc xoay quanh vùng Nghệ An như đất tranh chấp ảnh hưởng, hình như đã tạo một sắc thái đăc biệt có tính đổi thay bất thường theo tình thế cho nơi này khiến sử quan không phải bởi kì thị mà vẫn phải thốt ra những nhận xét không mấy tốt đẹp.

Tuy nhiên Lí từ phần cuối của triều đại cũng không còn ở thế hãnh diện nữa đối với vùng đất phương nam. Họ phải lo riêng cho sự tồn vong của mình từ sự suy yếu của bản thân và sự đe doạ của các lực lượng đối kháng ngay trong nước.

Các trung tâm quyền lực mới

Chiếm lĩnh thủ phủ của cựu thuộc địa, Lí thừa hưởng ưu thế từ vị trí đó trở nên kẻ nắm quyền chính thống với tư cách thủ lĩnh địa phương chuyển qua thành thế lực chủ nước. Đồng thời với sự phát triển chung, họ cũng gặp phải cạnh tranh từ các thế lực khác mà họ cố giữ sao cho tông tộc mình ở vị thế cao nhất. Các ông vua đầu đời đã thực hiện điều đó bằng võ lực, bằng khả năng tranh chiến của tập đoàn mình. Đến đời Nhân Tông, cơ cấu xã hội tập họp bởi Lí đã lên đến tột đỉnh qua một giai đoạn thái bình tương đối nhưng đồng thời cũng hé lộ những dấu hiệu bất an.

Mức sống nâng cao trong giai đoạn đầu cho phép Lí “tha thuế vải sợi trắng của Chiêm Thành” (1072), một cách nói khác của việc không thích thú nữa với vải cổ bối / cát bối từ cây bông gòn, để dùng áo quần dệt từ cây bông vải bền dai, sang trọng hơn. Cho nên năm 1084 có lệnh cho phép dân chúng nung ngói lợp nhà. Thế mà chỉ hơn mười năm sau (1097 ĐVSL) lại cấm xây nhà ngói cùng với việc cấm làm thuyền lớn ngăn đi xa, sợ gây vây cánh phản loạn. Lệnh năm 1099 (ĐVSL) cấm phụ nữ không được bắt chước lối ăn mặc trong cung chứng tỏ thêm rằng qua thời gian, có một bộ phận dân sống ở mức khá giả mà không thuộc nhà quyền quý. Những người đó cố sức len vào tầng lớp cầm quyền (vương hầu, công chúa, các quan) qua mối liên hệ thông gia với cả những người nô khiến vua phải ra lệnh ngăn cấm (1128, 1131). Thật ra thì tình hình như sử quan tả chỉ là quanh quẩn vùng kinh thành, và các tài liệu để lại vẫn không đủ cho ta nhân rõ các thành phần xã hội rạch ròi nhưng đại khái theo dần với thời gian đã có tình hình lẫn lộn các tầng lớp khiến phải có những lệnh đưa ra để chấn chỉnh (1157). Người sang hơi yếu thế mà muốn thân cận với kẻ giàu còn người giàu đi kiếm chút hơi hướm sang cả, thì cũng là chuyện bình thường. Người “bách tính” hẳn có tiền của mới được “nhà quyền quý” thu nạp. Họ có tiền mới mặc “áo đơn xanh” (của “sắc dân”? của nhà quan?), mới gây tranh chấp ruộng đất (1142) vào thời kì các nhà quyền thế cũng muốn lấn thêm (1143), mới khiến thợ của nhà vua làm vật dụng bán cho họ (lệnh cấm 1145) để họ cạnh tranh sinh hoạt sang cả với tầng lớp trên. Thế lực của vua cũng yếu đi vì quân lính dưới quyền, ở cấp thấy là cao vào thời trước (như Điện tiền sứ) lại đi phục dịch “các tư gia.” Các tư gia này hẳn là như họ Tô, họ Lưu nhất là họ Đỗ có Đỗ Anh Vũ đang nổi bật trên triều chính lúc bấy giờ.

Mọi sự tranh chấp lúc này đã dồn hẳn vào trong vòng thân tộc Lí. Họ Đỗ có chức quyền to lớn nhưng không cướp quyền được vì còn có các thế lực khác chia sớt như đã thấy. Dấu hiệu quyền lực khuất lấp khiến ta khó hiểu trong lời sử sơ sài: “Thái phó Hoàng Nghĩa Hiền chết (1161), nghỉ chầu 5 ngày vì ông có công trong việc giúp vua lên ngôi.” Tên Nghĩa Hiền chỉ được nhắc năm 1143 trong việc đi đào vàng ở biên giới, như vậy việc Anh Tông lên ngôi (1138) không phải chỉ giản dị là nhờ ba bà Phi khóc lóc như sử đã chép. Và chính vì có sự quân bình quyền lực trong triều như thế mà các tập đoàn phụ tá đã giúp cho Lí tồn tại lâu dài hơn là từ khả năng của những người ngồi trên ngai vàng. Các vua sau Nhân Tông đã cai trị đất nước thêm cả gần trăm năm, và nếu không bận tâm vì lời các ông sử quan chê trách, ta thấy tuy phải đối phó với những khó khăn qua thời toàn thịnh, các ông vua đó vẫn có đủ tiền của cung cấp để xây dựng cung điện, kiến thiết kinh đô, đàn ca hát xướng, an hưởng cuộc sống vui vầy. Khi Tăng phó Nguyễn Thường nghe (1202) “khúc hát theo điệu Chiêm Thành… ai oán thảm thiết,” đó là cảm ứng của giai đoạn suy tàn chứ nền nhạc, tiếng hát kia vốn đã được đặt ra, biểu diễn theo âm khúc của kẻ bại trận vào thời ông vua quyền uy Thánh Tông (1060) mà không thấy điềm ứng triệu mất nước đâu cả. Dân chúng hẳn cũng không khổ hơn các thời trước nhiều. Do nền tảng đó mà dù bị rối loạn tranh chấp bên trong, nhà Lí chỉ mất quyền sau gần nửa thế kỉ dùng dằng. Sự đổ vỡ của Lí phải do từ ngoài biên, với những trung tâm khác.

Thuộc vào thế lực địa phương cũ nhưng bị loại ngay từ đầu là nhóm Hoa Lư. Trong vụ giành ngôi 1028, Khai Quốc Vương Bồ cai quản vùng đó, từ trước đã có tham vọng cát cứ, nay nổi lên chống đối, bị thua. Nhân vật triều cũ đưa vào triều mới giữ chức vụ quân sự cao cấp lại cũng bị giết (Đinh Lộc 1041.) Dân chúng vùng đất họ Đinh từng làm hoàng đế bị xếp vào hàng thấp kém, năm 1154 (ĐVSL: 1152) có người làm loạn được sử gọi là “sơn lão” (rợ núi). Cũng một loạt sơn lão như thế có “thủ quân,” “quan lang” họ Đinh dính líu vào biến động 1184-85 khiến triều đình dùng đến thân vương mang cả vạn quân chinh phạt.

Trong biến động cuối đời, bỗng xuất hiện thật nhiều một họ lạ: họ Phan mà suy ra từ những địa điểm được ghi chép, cho ta biết đó là những tù binh Chiêm Thành trên các vùng phía tây, phía bắc, phía nam Thăng Long. Họ có thế lực riêng chỉ vì với thời gian dài quản lí đất đai, một số người ở tầng lớp điều khiển đã tích tụ được một chừng mực uy tín và tự tín để đứng lên chống đối. Có vẻ như nhóm cựu tù binh Chàm phía tây bắc đã vòng qua Thăng Long tràn xuống trung châu, tiếp tay nhóm ở hành cung Lị Nhân bị bắt xây thành Thăng Long nổi dậy (1198?) gây quấy đảo kéo dài (1203-1205, 1207). Con số 170 “hào trưởng” với người cầm đầu hàng triều đình năm 1205, chỉ rõ tính rộng lớn của vùng nổi dậy này. Sự lẫn lộn của các danh xưng Đại Hoàng, Hoàng chỉ sông, địa vực – trên sông Hồng hay ở Hoa Lư, đã khiến cho ta nghĩ rằng cuộc loạn của nhóm tù binh Chàm vùng Lị Nhân có thể đã liên kết được với nhóm Hoa Lư vì chiến trận có khi xảy ra ở vùng tiếp giáp sông Đáy và sông Hoàng phía Ninh Bình. Tuy không tranh cướp được triều đại nhưng nhóm tù binh Chàm vẫn còn đó như một tập thể tộc người riêng biệt ngay ở trung châu vì như đã nói, Lê Văn Hưu (1272) còn nhận ra tập đoàn, Trần Nhật Duật còn cỡi voi đến chơi “vài ba ngày mới về,” như với một vùng “người nước ngoài” – sự việc có thể vào cuối thế kỉ XIII hay qua thế kỉ XIV, lúc thái bình trở lại sau chiến thắng Nguyên. Vị thế vật vờ của nhóm người lưu lạc này khiến cho người ta lướt qua những công tích thật quan trọng của họ – có thể nói là ở mức độ “xây dựng triều đại,” như khi sử quan kể việc Trần Tự Khánh sau khi tóm thâu quyền hành (1216) đã cùng “Thượng tướng quân Phan Lân xếp đặt quân ngũ, chế tạo binh khí, luyện tập võ nghệ (khiến) quân thế dần dần phấn chấn…” cuối cùng diệt trừ được các nhóm đối lập.

Như thế vùng phía nam Thăng Long trở thành bất ổn trên diện rộng. Thanh Hoá (1188-1192 với giáp Cổ Hoành), Diễn Châu (Hồ Đồ 1192) nổi dậy. Lại cũng người châu Diễn phối hợp với kẻ tự xưng “con cháu Đinh Tiên Hoàng” chống đối triều đình (1198) mãi đến các năm 1214 (1215 ĐVSL, thua) Trần Tự Khánh còn phải mang quân đánh dẹp. Các cuộc chống đối không phải chỉ nêu tên người cầm đầu mà nêu cả tập đoàn khu vực: “người Đại Hoàng,” “người Hồng,” “người Khoái,” “người Nam Sách,” “người Thuận Lưu…” Chính các chỉ danh như thế cho ta thấy sức mạnh đàng sau những người chống đối. Quyền bính của trung ương – lực lượng mạnh nhất một thời nay suy yếu, làm nổi lên các lực lượng địa phương mà Lí phải nhờ cậy. Đánh “sơn lão,” quân Lí “lấy người trong châu (địa phương)” đóng chỗ này chỗ nọ ngăn chặn đối phương. Trong tiến trình phát triển quyền lực, đến lúc này Lí không còn quân đủ dùng cho riêng mình nữa. Đàm Dĩ Mông nêu rõ lí do: Phật Giáo, chỗ dựa quyền lực tinh thần của Lí bây giờ lại là nguyên cớ hại Lí. Tăng chúng quá nhiều đến nỗi không còn người phục vụ triều đình, thế mà cải cách thực hiện lại cho thấy rõ sự sửa sai không đủ hiệu quả chỉ vì nguồn nhân lực trong tay Lí đã quá nhỏ. Một lần kiểm tra (1198 ĐVSL) “triệu tập tăng đồ trong xứ/nước nơi vựa lúa,” Đàm Dĩ Mông giữ lại “vài mươi tăng đồ.” Tính cách nhỏ nhoi của lần kiểm tra mang tính cách trung ương như thế cho thấy số hoàn tục cũng không thể là nhiều lắm. Và do đó Lí khi dẹp loạn phải nhờ cậy địa phương, không còn ở thế chủ động như trước nữa. Còn các địa phương thì nghiêng ngả chọn lựa theo phe thấy là mạnh trong cấp thời của tình thế khiến tình trạng tranh chấp càng rối mù lên.

Nguyễn Nộn hẳn không phải chỉ vì bắt được vàng mà có tăm tiếng để vua Lí hạch tội không được rồi gả con, để Trần Tự Khánh, người khởi nghiệp nhà Trần o bế, mua chuộc. Bị Khánh bắt, “trói bằng dây thép năm vòng” mà cứ thế nhảy múa vui đùa, Nộn được Khánh thả ra, gả em con dì, cho ngự trị vùng khởi phát, lan cả qua đất Cổ Loa (“Cả Lũ,” 1213 ĐVSL). Người “cư sĩ chùa Phù Đổng” đó xưng vương, hàng phục được nhóm đối nghịch Đoàn Thượng, quấy đảo được trong các năm 1219-1229 là nhờ của cải một vùng danh lam có “điền nô, kho chứa tài vật” như loại của Nhân Tông ra lệnh quản lí năm 1088. Tính chất thần-ma của một vùng có chùa Phật, có thần cây đá ông Đống khiến tước xưng của ông, Hoài Đạo Vương, lan ra những vùng lân cận, gặp gỡ nhóm tù binh Chàm gần đấy để chiêu dụ được nhân vật Phan/phiên Ma Lôi, con người có tầm vóc hoạt động cụ thể lớn rộng mà mang dạng phiêu hốt “có tài chủ động đánh thắng, dùng binh như thần” sau “cỡi ngựa chạy trốn, không biết là đi đâu.”

Một nhóm thứ hai có người đứng đầu là Đoàn Thượng, vướng víu vào thân tộc Lí với chút uy danh khởi đầu là “con vú nuôi của vua,” người cùng chia xẻ một bầu sữa mẹ với vua nên đã trở thành cao quý, sang trọng. Triều đình Lí còn mang tính cách gia đình nặng nề nên chỉ ở thời Lí mới có chuyện sử chép các “hoàng bà” này chết đi. Họ Đoàn hẳn dựa thế địa phương vùng biển, châu Hồng, đất của thương mại hưng thịnh chứng tỏ nơi chốn xuất phát của triều Mạc về sau, và do chính việc bản thân người chủ tướng sau này được hoà nhập vào hình tượng thần Bạch Mã mang dấu vết giao thương trên đường biển Đông. Hình như chút vướng víu với triều cũ lại là nhược điểm để những người lãnh đạo không thể khai thác lợi thế nơi đất khởi nghiệp. Vị trí của nhóm châu Hồng mang tính cách tương đồng với người thắng cuối cùng trong cuộc tranh chiến: họ Trần.

Họ Trần không giấu diếm gốc tích của mình. Sử quan cho thấy trước khi đến vùng Nam Định ngày nay để gây dựng sự nghiệp, họ đã dừng chân trên đất Quảng Yên với chứng tích vùng xã An Bài gọi là làm đất hương hoả rộng lớn, phong cấp mà thật ra như một cách chia của cướp từ nhà Lí, cho ông trưởng Trần Liễu rủi ro không được vào cung Lí để lên ngôi Trần mà còn bị mất vợ vì phải hi sinh cho sự nghiệp bền dai của dòng họ! Đánh cá, cướp biển mở rộng tầm hoạt động khiến họ có sức mạnh tập đoàn lớn hơn các nhóm đồng bằng, có những cung cách ứng xử mà các nhóm khác phải chịu vướng víu, cho nên họ có nhiều lợi thế để tung hoành hơn. Sinh hoạt tính dục buông thả được coi như bình thường, ảnh hưởng đến cung cách xây dựng gia đình, không cho thấy có những ràng buộc đạo lí như nhóm Lí đang hướng tới. Họ cũng tham gia vào dòng buôn bán biển Đông nên có ý thức vượt khỏi sự khu biệt địa phương. Nhưng lại cũng như các tập họp lật đổ quyền hành khác, ý tưởng chiếm đoạt chỉ nảy ra dần dần theo sự suy yếu của tập thể đang nắm quyền đến nhờ cậy họ. Mối liên hệ hôn nhân đã xây dựng quyền bính trên đất Đại Việt của Lí thì cũng là yếu tố khởi đầu cho Trần chen vào trong vòng thân tộc Lí để chiếm quyền. Người hoạt động nhất, Trần Tự Khánh, với vị thế cô em thứ hai làm vợ Vương tử Sảm – Huệ Tông sau này, đã tìm đủ cách giành giật nhóm chính thống – Thái hậu, vua, hoàng hậu – từ tay các nhóm bảo trợ khác để thao túng chính quyền. Ông mất sớm, chuyển âm mưu cướp đoạt họ Lí về tay người em họ: Trần Thủ Đọ. Vua Lí không con trai, truyền ngôi cho con gái để Trần Thủ Độ làm một cuộc đảo chính nhỏ trong cung cấm, ép Chiêu Hoàng lấy cậu bé Trần Cảnh, chuyển ngôi cho họ Trần (1226), lấy sức mạnh tộc đoàn đánh dẹp Nguyễn Nộn, đem cả một vùng biển thênh thang góp vào Thăng Long, tạo thêm sức mạnh cho Đại Việt của triều đại mới.

Biến cố dồn dập ở vùng hạ lưu châu thổ dẫn đến sự chiến thắng của các tộc đoàn trên vùng này khiến cho ta thấy ảnh hưởng yếu ớt của các tộc đoàn vùng trung, thượng du vốn qua các liên hệ hôn nhân, cũng muốn chen vào trong sự tranh chấp quyền bính Lí. Họ chỉ có thể lấy công chúa Lí rồi yên tâm tiếp tục sống làm chủ khu vực của mình, như họ Thân, họ Hà, họ Lê – đã thổ tù hoá. Có về kinh đô làm phò mã, họ cũng chỉ thuộc về phe thất bại trong tranh chấp vì cô thế, may lắm thì bị đuổi về quê cũ, khỏi mất mạng như trường hợp Lương Nguyên Bưu (1150). Khía cạnh biển, khía cạnh thương mại khuất lấp trong các dòng sử chính thống có vẻ phải được điều chỉnh từ các sự kiện này.

Vị trí Việt Nam của Lí

Có thể kể Lí là triều đại xuyên suốt dài nhất trong lịch sử Việt. Hậu Lê cai trị từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII nhưng có thời gian gián đoạn vì Mạc, chưa kể thời Trung hưng chỉ ngồi làm vì. Nguyễn phải trải qua thời kì làm Chúa còn dài hơn thời làm Vua của mình. Lí, trong sự củng cố ngôi vị của mình sau thời chông chênh của các triều vua Hoa Lư, đã đặt nền móng vững chãi cho nền độc lập về sau. Cũng nên nghi ngờ về một ngộ nhận rằng bài thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…” là của đương thời vì lẽ nó đã xuất hiện trong truyện tích chiến tranh Lí Tống. Bài thơ thần giáng đó, trong quyển sách viết ra thế kỉ XIV, thật lạc loài trong thơ văn Lí mà lại có giọng hùng hổ của thời chống Nguyên: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm…” Tuy nhiên điều lệch lạc đó không làm thay đổi vị trí của Lí trong lịch sử Việt Nam.

Đã nói, từ sự chọn lựa kinh đô mới, tuy chỉ là “về quê,” nhưng không phải Lí chỉ giản dị làm một sự chuyển dịch nơi chốn. Tất nhiên Hoa Lư khuất lấp cũng thật thuận tiện cho sự chống đỡ buổi đầu, khiến cho kẻ thù ngần ngại khi muốn lấn áp, lấy lại uy thế cũ. Nhưng với thời gian kéo dài trong tình thế mới thì những nhược điểm sẽ lộ ra: Khung cảnh chật chội của Hoa Lư đóng khung tầm mắt của người nắm quyền – và cả những thế lực khác muốn tranh quyền, khiến cho sự tranh chấp chỉ quanh quẩn trong một khu vực nhỏ hẹp. Ưu thế xa khuất đối với chủ nhân ông cũ lâu dần sẽ có ý nghĩa của một sự co rút, trốn chạy. Những điều đó đã không xảy ra chỉ vì Lí dời đô, đến một nơi mà tương lai được bảo đảm bằng các dấu hiệu của quá khứ. Tách rời khỏi chủ nhân cũ là để đòi quyền riêng biệt của một địa phương, nhưng muốn tồn tại thì không thể trở về với thời bộ lạc xưa mà phải là tiếp tục hướng tiến đã mở ra trong thời thuộc trị, chỉ vì giản dị đó là hướng văn minh đương thời độc nhất, có tính kết tập cao trong vùng. Như thế sự trở về cựu thủ phủ thuộc địa, trên đại thể sẽ không gây ra sự gãy đổ trong tình hình quản lí đất nước của người cầm quyền mới, không có sự gián đoạn mà chỉ là tiếp tục, trong nếp sinh hoạt của những người sống trên mảnh đất đã thay đổi chủ quyền, và đó là cơ sở lâu dài cho sự tồn tại của Lí.

Lí về kinh đô Cá Sấu Thăng Long, tầm mắt vươn xa trên một vùng đồng bằng lớn rộng, có đất đai để khai thác giàu mạnh theo một cung cách khác với lối cướp đoạt thông thường, mở ra trên một cơ sở quản lí của thời thuộc địa nay đã phân rã gần một thế kỉ nhưng còn giữ được khuynh hướng tập trung rồi sẽ giúp họ, cũng như những dòng họ tiếp theo, nắm tư thế gom góp quyền hành càng lúc càng xứng với danh nghĩa “triều đại” vốn thật mờ nhạt lúc khởi đầu. Không có việc dời đô, không có Lí, Trần hay ai đó về sau chắc hẳn không đủ khả năng đương cự với sức mạnh tràn lấn của Nguyên Mông. Chính sự tồn tại lâu dài của Lí đã khiến cho chủ nhân cũ phải dứt khoát từ bỏ ý định chiếm lại thuộc địa xưa, công nhận một nước mới ở sát phía nam của mình. Tên nước An Nam tuy còn vướng vít quá khứ nhưng ở đó đã có một “quốc vương” mang tính tự chủ chứ không phải là một “quận vương” của triều đình phương Bắc phái đến cai trị nữa. Chính Lí đã chính thức nêu danh hiệu Đại Việt lâu dài cho đất nước mình cai quản (1054) qua những dò dẫm của các triều trước, hình như là nước Đô Hộ của Ngô vướng qua thời Đinh, lẫn lộn với Đại Cồ Việt như một nối kết với nước Nam Việt của Triệu Đà xưa đã làm gàn trở mà thành hình tên Việt Nam ngày nay.

Nhưng không phải vì công cán kết tập ban đầu đó mà ta phải nhìn Lí như một triều đại rực rỡ theo cách nhìn tán tụng của người thời nay. Sử xa đời tuy mờ mịt, sử quan hay bị chê trách nịnh bợ chủ nhưng nhìn vào các ghi chép để lại, ta thấy họ thật thà một cách đáng ngạc nhiên. Đó cũng vì may mắn chúng ta có được quyển sử tuy cũng do nho sĩ viết nhưng thuộc vào thời đại ít khuôn thức gay gắt hơn lớp người sau họ. Quyển Đại Việt sử lược lưu lạc ở Trung Quốc, thoát được nạn tiêu huỷ trên đất gốc, trở về Việt Nam trong thế kỉ XX, mang lại những thông tin về Lí sát đời-thường hơn quyển sử Đại Việt sử kí toàn thư của triều đình Tống nho Hậu Lê. Và cũng để ta hiểu được tính chất thần thuyết lẫn lộn người việc thật trong quyển Sử kí của Đỗ Thiện đời Lí qua những mảnh vụn còn lại.

Triều đình Lí vẫn có dáng hào nhoáng của người chủ nước qua các xây cất thành quách, cung điện, đền tháp có tên trong sách vở mà ngày nay chỉ còn là vật chứng sứt vỡ, gãy nát. Nhưng không phủ nhận được, vẫn là hình bóng những ông chủ hung tợn cầm quân mà “quê mùa” nắm cày cuốc, kiên trì chăm nom ruộng nương, hưởng thụ đàn ca hát xướng với nhà cao cửa rộng nhưng tâm thần không ổn định, ngu ngơ bị gạt gẫm trong một đất nước đè nặng hình ảnh thần linh. Giống như sự mập mờ lẫn lộn những con cá sấu xuất hiện trong, ngoài nhà cửa, cung điện của đất Thăng Long đầy hồ ao, lạch nước mà mang dáng các con rồng cao quý của kinh sách xa vời. Tuy nhiên chính qua các dấu vết thô phác của triều đại chưa bị khuất lấp đó mà ta nhận ra tiếng nói của thời đại, tiếng nói bị lấn lướt chỉ vì sử kí mượn một thứ chữ cao cấp bên ngoài để ghi chép cho xứng bực cao sang – cái thứ tâm lí kênh kiệu đó cũng khiến cho người thời nay không quan tâm hoặc ngại ngùng khi phải nhắc tới những điều tầm thường – “bình thường.”

Với thời đại, nhu cầu quản lí ruộng đất của các lãnh chúa lớn nhỏ, nhu cầu quản lí đất nước nói chung, đòi hỏi triều đình phải mở ra những kì thi làm tính, viết chữ. Một đất nước “bản xứ” phải ghi chép bằng thứ chữ bản xứ mới ứng hợp với thực tế cho nên từ đó phát triển lối chữ dành cho địa phương, chữ Nôm, “quốc ngữ.” Đã thấy trong quá khứ tên nước Đại Việt mang kèm chữ “cồ” (viết theo chữ Hán “cù” để mượn âm) nhưng đó là ghi nhận có lẽ của thế kỉ XV vì không thấy ở sách xưa hơn. Lạc loài trong triều đình có chữ “chàng lớn” mà ta dịch từ “hạng lang” tuy không biết đích thực người xưa có đọc như thế không. Cũng như trường hợp danh vị Bố Cái Đại Vương (hay Vua Cái Đại Vương, theo K.W. Taylor) tuy chỉ người của thế kỉ VIII nhưng lại thấy ở sách thế kỉ XIV. Với phần rất lớn dấu vết để lại, tiếng nôm bị gò ép, uốn éo vào thơ văn, không còn là tiếng nói bình thường nữa. Trên bia đá thì chỉ còn dấu vết vài chữ của năm 1210. Ông Nguyễn Trãi chắc không nói chuyện như khi ông xếp đặt câu cú trong các bài thơ “quốc âm” của ông. Các bài văn Phật của đời Trần trước ông lại còn nặng nề thêm bởi tính triết lí của chúng. Các lời nói trong triều đình thì đã chuyển qua chữ Hán. Các chiếu chế, sắc lệnh từng được ghi, là khi tuyên đọc có người giải thích ra chữ “quốc ngữ” nhưng chẳng thấy một lời nào để lại.

Thế mà, không đừng được, Toàn thư khi nhắc đến biến động đảo chính và phản đảo chính năm 1150 nhằm lật đổ quyền thần Đỗ Anh Vũ, cho biết nhân vật Vũ Đái đã bị mắng là Vũ “Cứt”, phải ghi bằng chữ Hán (Việt) là “Cát”, nhân tiện chú thêm lời cho rằng đương thời có dùng chữ “cứt đái” (cát đái.) Lời nói trong lúc giận dữ thì không thể “hiền lành, nho nhã” được, và có lẽ chỉ vì tính cách này mà ngày nay ta còn nghe được nhóm từ đó vì hợp với các ông sử quan ưa làm thầy, muốn dạy dỗ vua chúa, triều đình, nên chịu để chúng lọt vào tai, phóng tay giữ làm chứng tích rao giảng. Nhưng tập họp “cứt đái” của mười thế kỉ trước sao cứ như là lời chửi mắng vừa mới nghe lúc nãy, của ai đó quanh quẩn đâu đây? Cho nên ta có quyền suy đoán thêm. Một danh tướng đương thời được nho thần Bắc ghi là Lí Thượng Cát và sử thần ta ghi là Thường Kiệt. Chữ “thượng” thấy trong văn bia đương thời là dùng cho tiếng gọi “thằng”. Qua lời Nguyễn Ánh của thế kỉ XVIII thì “thằng” còn có ý khinh miệt, nhưng ông chủ ruọng trong văn bia Lí 1210 thì hẳn không phải là nô bộc của ai. Vậy “thượng cát” là “thằng Cứt.” Và “thường kiệt” là “thằng Cặt.” Ông danh tướng này có tên gốc chữ Hán: (Quách) Tuấn, tên dùng đặt cho người con trai, đàn ông – chỉ là một cách gọi nho nhã, chủ đích làm nổi bật tính cách giống đực của ông, nhưng vẫn cùng một ý nghĩa: thằng Cặt, bình thường. Không có ý gì khinh miệt cả vì người ta đã dùng tên này cho ông suốt cuộc đời, không bỏ nó khi ông làm quan đầu triều, Thái uý, tư lệnh quân đội, khi là Thiên tử nghĩa nam, nghĩa là thuộc dòng vua, cuối cùng, cả khi đi vào sử sách cho đời sau ngưỡng vọng – tên “xấu” được che chắn qua một sự chuyển đổi văn tự và nhờ thời gian khoả lấp.

Thế rồi không phải tiếng nói lúc đương thời chỉ được ghi lại qua một hai chữ lạc lõng. Ta đoán rằng tầng lớp cầm quyền buổi đầu của Đại Việt đã dùng song ngữ trong giao thiệp hàng ngày. Ngô Chân Lưu, Tăng thống “khuông (phò nước) Việt,” Đại sư của Đinh được Thiền uyển tập anh ghi là dòng dõi Ngô Thuận Đế, hẳn không phải xuất thân từ đất Ngô Việt tan rã (978) vì người chủ nơi này không xưng Đế, mà chỉ có thể là từ nước Ngô của Dương Hành Mật, mất (936) vào tay Nam Đường. Tống Cảo kể chuyện một cách suôn sẻ khi đi theo Lê Hoàn nghe ông ta khoe cái lầu Đại Vân nhưng đến khi nghe hát thì ông sứ giả mới giật mình: tiếng Man! Lí gốc Mân (Phúc Kiến), ngưòi phụ giúp rất nhiều là gốc Mân như đã nói. Có lẽ vì nhìn theo hướng như vậy mà Phạm Thành Đại, tác giả Quế hải ngu hành chí (1175) đã cho rằng dân bản thổ Đại Việt không còn mấy, quá nửa là dân Quảng Đông, Quảng Tây đến ở! Và chứng cớ không phải chỉ từ sách vở rách nát mà còn từ các hòn đất chịu đựng qua năm tháng: Các tượng đào được ở Quần Ngựa (Hà Nội) do J.Y. Claeys đưa ra (1934), hẳn từ những hội Thiên Phật của Lí, rõ ràng đã lấy mẫu ở các người danh giá đương thời, và rất giống người Hán! Thế mà lớp người đó đã dùng một từ bản xứ để gọi con người từng một lúc nắm cả vạn mệnh dòng họ cầm quyền, con người nếu xuất hiện sớm hơn, có thể lập một triều đại khác.

Họ còn dùng tiếng bản xứ để nói với nhau, nguyên cả một câu phẩm bình đầy giận dữ: “Ngô Phụ quốc là lồn, Lê Đô quan là cứt!” (Từ nguyên văn “Ngô Phụ quốc thị Lan, Lê Đô quan thị Kích.”) Câu nói được sử gán cho “người dân” tức giận vì triều đình không dám xử tội ông Thiếu sư tư thông với Thái hậu. Có điều gây thắc mắc là năm 1189 đó dính líu tới ông Mạc Hiển Tích mà TT ghi đỗ trong kì thi chỉ lấy một người năm 1085, được đi sứ Chiêm năm 1094, nghĩa là ông ta không thể sống lâu đến lúc có chuyện đó để lưu danh đặc biệt. TT nho giả nghiêm minh hơn đã bỏ câu chuyện mắng mỏ “dơ dáy” của ĐVSL nên khỏi cần thắc mắc tại sao Mạc Hiển Tích không ve bà Ỷ Lan mà lại ve bà Thái hậu của 100 năm sau? Tuy nhiên hai nhân vật kia lại là có thật. Thái phó Ngô Lí Tín làm Phụ chính một năm trước đó, còn Đô quan Lê Năng Trường thì năm sau hình như được thăng chức. Nghĩa là câu chuyện có thật, và quan trọng đối với chúng ta bây giờ là câu mắng kia có thật. Chữ “là” đã được Nguyễn Trãi dùng trong thơ của ông, như vậy nguyên văn khẩu ngữ của câu trên có thể đúng là: “Ngô Phụ quốc là.., Lê Đô quan là…” như ta đã dịch. Một câu nói tiếng Việt dài hơi, dù đã chuyển qua chữ Hán nhưng vẫn giống như người bây giờ nói vì không luỵ vào văn pháp Hán, chưa từng thấy đâu trong sử sách về sau cho đến lúc người Pháp qua. Câu mắng trên là chứng tích có thời điểm, là bằng cớ Việt Nam của Lí, của một ngàn năm trước. Xuất phát từ một sự kiện bình thường, nó biểu diễn được tính chất đời thường, không phải nghiêm túc như các văn thề, thư tín quan cách của Lê Trịnh. Qua một ngàn năm nữa từ Lí, đám người còn chia năm xẻ bảy dưới quyền họ rồi sẽ thu nhận thêm nhiều tập đoàn khác nhưng đã có một tiếng nói được định hình, làm nền tảng cố kết tính độc lập và riêng biệt phát triển trên phần đông bán đảo Đông Dương cho đến tận ngày nay.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s