Bài sử khác cho Việt Nam: Chương V – Chế độ thủ lĩnh – hào trưởng ở Hoa Lư

Tác giả: Tạ Chí Đại Trường


 

Loạn “Mười hai sứ quân” và Đinh Bộ Lĩnh

Ra mặt đầu tiên trong sự tranh chiếm quyền hành với trung ương phương Bắc là những lực lượng lớn ở địa phương. Nhưng rút về những tranh chấp ở cựu thuộc địa như khi nhà Ngô ở Cổ Loa suy yếu thì có những lực lượng nhỏ xuất hiện mà sử gọi là Loạn “Mười hai sứ quân.” Con số đếm và danh xưng này được các sử quan Việt ghi chép cẩn thận, tạo thành nếp không sai chạy khiến đến thế kỉ XV, người Minh muốn tìm hiểu, không được thoả mãn mà vẫn phải chịu chép theo con số Mười hai, dù có lệch lạc chút ít.

Có thể theo chính sử Việt để làm cơ sở suy đoán cho bản danh sách rối rắm này. Đó là những vọng tộc cũ, đã xuất hiện từ trước, sâu vào trong thời thuộc địa như các họ Kiểu: Kiểu Công Hãn, Kiểu Hiền; họ Ngô: Ngô Xương Xí, con Xương Ngập, Ngô Nhật Khánh, có thể là con Xương Văn. Đỗ Cảnh Thạc xuất hiện trong cuộc tranh chấp kế nghiệp nhà Ngô, rõ là có liên quan với Đỗ Anh Hàn, Anh Sách vì cùng địa phương gần nhau, và dấu hiệu truyền đời còn thấy đến cuối Trần, tất cả mở đầu nơi một lưu vực sông nhỏ trở thành mang tên của thân tộc khai thác: Đỗ Động Giang, sông của vùng người họ Đỗ. Có những người, nếu tin vào âm hưởng xưa của thần tích, là những tay thương buôn, phiêu lưu sông nước mang tính cách xung động có sẵn để chen vào biến loạn: Phạm Phòng Át / Bạch Hổ, Trần Lãm, Nguyễn Siêu, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Khoan. Chúng ta không biết gì thêm về Lữ Đường, Lí Khuê của sử quan, Dương Huy và tên Ngô Xử Bình do Lê Tắc dẫn, với chi tiết “tham mưu của Xương Văn.” Họ Ngô ở đây lại khiến ta liên tưởng đến sự tan vỡ của dòng chính để ghép ông vào với tên sử quan gọi về một “Ngô Phó sứ,” người đánh tan quân của “con em Ngô Tiên chúa” đang trên đường chinh phục Hoa Lư. Và nếu không vướng vào vị thế chính nguỵ thì còn phải kể thêm Đinh Bộ Lĩnh như sử Minh đã ghi. Bới chuyện cũ thì có thêm Dương Cát Lợi, lấy thần tích của Việt điện u linh tập thì có Lí Huy, hơi giống Dương Huy của Lê Tắc. Chưa kể các lực lượng phía nam Hoa Lư như Lê Lương, như tập đoàn họ Lê có người nuôi Lê Hoàn. Nghĩa là số sứ quân, không kể người khuất lấp, đã có trên mười hai người.

Mỗi sứ quân đều có ưu thế riêng của mình trong hướng tranh giành quyền tối thượng nhưng có vẻ nhóm người phía nam được lợi thế hơn. Chúng ta thấy sự yếu ớt của các lãnh chúa con nhà gia thế cũ như họ Kiểu. Họ Đỗ chỉ tách ra sau khi phụ thuộc vào nhà Ngô, và ghép theo tình hình Đỗ Cảnh Thạc phù trợ Xương Văn trước kia, thấy nơi vùng căn cứ Đỗ Động / “vùng của họ Đỗ” lại có “con em Ngô Tiên chúa,” ta có thể đoán rằng An Vương Ngô Nhật Khánh chính là con Xương Văn. Ngô Xương Xí được Toàn thư – sử của Nhà nước, ghi là một sứ quân riêng rẽ cho hợp với tính cách chính thống nối dòng Xương Ngập, nhưng sách Đại Việt sử lược của bên ngoài triều đình thì chép sứ quân Nguyễn Du Dịch “tên là Xương Xí.” Có vẻ như ông cháu đích tôn dòng họ Ngô này phải núp dưới quyền của một lãnh chúa khác mượn tiếng nhà Ngô. Các sứ quân nổi bật nhất thời theo thế thương buôn, phiêu lưu sông nước hẳn là không có cơ sở bền vững để trụ lâu dài. Phạm Bạch Hổ phải tìm cách nương tựa vào một dòng nhà Ngô như đã thấy. Và Trần Lãm trên cửa Bố (Bố Hải Khẩu) như dấu hiệu một đầu mối giao thương phồn thịnh, bám trụ thêm bằng một ít ruộng đất, cũng phải vươn cánh tay liên hệ vào đất liền để kết tập vớí một dòng gia thế, có chức phận: họ Đinh.

Đất Hoa Lư khởi phát của Đinh Bộ Lĩnh giống như một vịnh Hạ Long trên đất liền với hang động, sông suối ẩn khuất sau các khối núi đá vôi làm thành một cứ điểm hiểm trở để huấn luyện quân binh, có thể tiến ra ngoài khi xung trận hoặc co về khi thất thế. Những câu chuyện truyền đời về “cờ lau tập trận” là không ngoài ý nghĩa chuẩn bị thực lực, quấy đảo địa phương dẫn đến việc khuất phục ông chú tranh giành, như bằng chứng mở rộng quyền lực. Dân chúng thuộc quyền mang tính cách hoang dã hơn dân trung châu, chứng cớ là khi thất thế họ bị chính quyền trung châu coi là “man”, “lão”, ở đó, ví dụ như khi Khai Quốc Vương Lí Bồ cai trị (1013-1028), ông ta tha hồ “cướp bóc dân mọn.” Quân lực dưới quyền Đinh Bộ Lĩnh do đó hẳn là hùng mạnh hơn các sứ quân khác. Mạnh mẽ nên được Trần Lãm kết liên minh, nhận Đinh làm “con nuôi.” Uy thế cao nên sử không ghi trận chiến giữa các sứ quân với nhau mà nêu lên trận tấn công độc nhất nhắm ngược vào Đinh, của “con em Ngô Tiên chúa” lặn lội trên đường xa, trải qua các vùng thù địch nên mới bị “Ngô phó sứ” đánh tan. Sử chỉ cần ghi thêm việc đầu hàng của Phạm Bạch Hổ là đủ mở đầu cho việc chinh phục “mười hai sứ quân.” Từ đó “lại dân Kinh phủ đều theo về (Đinh). Nhà Ngô mất.”

Chế độ thủ lãnh độc tôn: truyền thống và thực lực cá nhân

Đinh Bộ Lĩnh (924-079) dẹp xong sứ quân, nắm được sự thần phục của lớp quyền chức cao cấp của xứ sở (“lại dân Kinh phủ”) liền xưng đế (968), đặt niên hiệu (970), lập một triều đình riêng cho nước mới có tên là Đại Cồ Việt và đóng đô ở Hoa Lư sau khi không chọn quê mẹ vì thôn Đàm “chật hẹp không có lợi về việc đặt hiểm” như sử quan ghi lại. Ngay chính khởi đầu này cũng cho ta thấy sự giằng co mới cũ mà những người cầm quyền đất nước có danh vị độc lập đầu tiên phải chịu đựng. Đúng là rời bỏ thôn Đàm, rời bỏ ngôi nhà ở cạnh đền thần núi, bỏ cuộc sống với năm bà lão (thêm người mẹ họ Đàm) có mang một ý nghĩa thần bí nào đó, tất cả cũng đều là một chuyển biến sinh hoạt phải có do sự thay đổi địa vị. Tuy nhiên rốt cục địa điểm Hoa Lư dù vừa vặn cho tình thế mới vẫn còn chứa đựng những ràng buộc bất lợi mà những người kế tục sự nghiệp ở đây phải chịu đựng. Kết quả có lẽ không được toan tính trước, là ưu thế ẩn náu, khép kín của Hoa Lư như một trung tâm phòng vệ bản xứ đã làm chùn bước tham vọng của người chủ cũ. Vùng đất đủ rộng cho vị “hoàng đế” địa phương khai thác với hàng ngàn trâu của vua (“quan ngưu”), vừa vặn nuôi sống ba ngàn “Thiên tử binh” khắc tên trên trán, để giữ vững cơ nghiệp mới vừa xây dựng, đủ răn đe, đàn áp những chống đối bên trong. Có sự quân bình về thực lực khu vực với khả năng người cầm quyền tuy còn mang tính chất kurung của thời cũ nhưng đã biết tận dụng tính cách cai trị của thời thuộc địa vừa rời bỏ khiến cho uy thế của những lãnh tụ Hoa Lư vượt lên trên những “Tiết độ sứ” thời mới chập chững bước ra vòng lệ thuộc phương Bắc hồi đầu thế kỉ. Những trận tiến chiếm thất bại, các tường thuật về hành trình gian nan đến xứ này của các sứ bộ (như Tống Cảo) sẽ ủng hộ thêm lí lẽ của phái chủ hoà ở phương Bắc đưa ra, muốn rao giảng ân đức cao cả với bọn Nam Man xa xôi thay cho sự vô dụng của uy lực không thể đạt tới.

Dù gì thì một tổ chức trung ương cũng phải được thu xếp quanh gia đình hoàng đế với người con lớn, Đinh Khuông Liễn, phong làm Nam Việt Vương, và năm người vợ ngang hàng nhau. Triều đình có quan văn giữ ngôi cao (Nguyễn Bặc), chức trưởng ngành tư pháp coi toàn cõi (Lưu Cơ), có tướng cầm quân (Lê Hoàn). Thay cho ông thần núi riêng lẻ xưa kia là một hệ thống tăng đạo cố sức giúp thủ lãnh gom quyền hành thế tục từ sự tin tưởng linh thiêng trong toàn vùng vừa mới sáp nhập. Tổ chức như thế hẳn đã đóng góp hiệu quả cho các chính quyền ở Hoa Lư nhưng dạng hình đó chỉ là dấu vết còn lại của một tình trạng sử biên khuất lấp sau sử kí của nhà nho về sau. Tăng lục Ni sư Trương Ma có vẻ là người đã thu xếp các sứ quân gom lại trong con số mười hai, mượn từ mối tin tưởng Mười hai nhân duyên của Đạo mình để nói lên hàm ơn đối với vị hoàng đế đã mang lại an bình cho xứ sở, đưa tăng ni lên địa vị tột đỉnh trong thời đại mới. Và những ghi chú thời sự của bà, của những người nối tiếp có lẽ theo thói quen trong sinh hoạt thường trực của tôn giáo, đã được thu tóm thành những câu ngắn gọn như kệ rồi sẽ biến thành sấm kí trong những quyển sử về sau.

Tuy nhiên nền “đại nhất thống,” như sử quan tán tụng, vẫn không thể hiện suôn sẻ. Một ngôi thành tre nứa, gỗ đất đã được dựng nên để phòng thủ nhưng phải có dấu hiệu gì đó chứng minh quyền lực lan bên ngoài sự co rút kia. Cho nên phải có vạc dầu sôi, chuồng cọp dữ để trừng trị kẻ phản đối. Lại không thể chỉ có trừng trị. Trong quá khứ, các nhóm quyền lực ở cựu phủ Đô hộ đã biết đến hình thức kết liên minh, như Đinh vừa kết hợp với Trần Lãm vừa gửi con ở với Ngô cho đến khi nhìn ra tình thế chọn lựa dứt khoát: Thấy Ngô Xương Văn chết trận, Đinh Liễn liền “trở về Hoa Lư.” Sau khi binh lực Hoa Lư chiến thắng thì dùng phương tiện thông gia để hi vọng kéo dài sự liên kết. Với liên minh mới ở cửa Bố thì không cần tổn sức nhiều: chỉ gả con gái cho người em của chủ đất kia là đủ. Nhưng với dòng họ từng có danh nghĩa làm chủ toàn “nước Đô Hộ” thì phải nhiều ràng buộc hơn: Gả con gái cho cựu An Vương Ngô Nhật Khánh, lấy mẹ người này, cho Đinh Liễn lấy em gái ông ta. Còn có thể thấy liên hệ hôn nhân theo hướng khác bằng cách nhìn danh tính các bà vợ đồng đều danh vị Hoàng hậu: Kiểu Quốc như từ “nước” của họ Kiểu trong thời tranh chấp, Cồ Quốc như từ “nước” nòng cốt của tập họp sinh ra từ Cồ-Việt, Ca Ông của một tập họp man lão nào đấy, Đan Gia, Trinh Minh có vẻ như từ những tập đoàn thờ thần linh (kiểu như của năm bà lão quê mẹ họ Đàm) có dấu vết đã thiên về Đạo Giáo. Đó là cách xử trí đối với những tập đoàn gần gũi hay ở phía bắc Hoa Lư, nơi Đinh làm việc “nhất thống.” Còn với các tập đoàn phía nam chưa phải động đao binh thì giữ hoà hoãn cũ, phong cho Lê Lương ở Thanh Hoá chẳng hạn, chức Ái Châu, Cửu Chân Đô quốc Dịch sứ, một chức phận rửa mặt cho nhau, coi ông lãnh chúa kia là do triều đình của nước Đô-Hộ-mới phái đến trông coi hai châu cũ của phủ Đô hộ. Ấy thế mà những quyền lực chực chờ cũ vẫn không để yên cho nhà Đinh.

Muốn phổ biến sự chính danh mới, Đinh đúc tiền Thái bình hưng bảo, đã có chữ “hưng” không chịu lẫn lộn với các tiền Thái bình khác mà còn có chữ “đinh” xác nhận không sai chạy. Niên hiệu vừa lập, tiền vừa đúc thì tướng Phan Mĩ đã chiếm Nam Hán (971), Đinh phải phái người cầu thân với Tống. Thời gian đó Tống còn bận chinh phục bên trong, nên cho đến khi bình nước Ngô Việt (979) thì sự giao hảo còn có thế thuận lợi cho Đinh, và riêng cho người con. Sử ghi “sai sứ sang Tống đều lấy Đinh Liễn làm chủ.” Liễn được Tống phong làm Giao Chỉ Quận Vương, bên trong là Nam Việt Vương, chức phận trong ngoài không nhường ai thế mà còn phải chịu đựng sự tranh chấp với truyền thống xưa cũ tuy không đủ mạnh để đương cự với ông nhưng cũng đủ làm áp lực khiến ông Hoàng đế không nhìn ra thực lực trực tiếp đe dọa là từ đâu để ngăn được sự đổ vỡ từ bên trong.

Sử thần đời sau theo kinh sách chê Đinh Tiên Hoàng bỏ trưởng lập thứ gây rối loạn nhưng không hiểu rằng tính chất trưởng thứ của thời đại đã thật rành rẽ trong quyết định của ông. Đầu năm (978), ông lập người con nhỏ tuổi là Hạng Lang làm Hoàng thái tử để kế nghiệp, gạt Đinh Liễn ra ngoài. Năm sau Liễn giết em, dựng bảo tràng sám hối nhưng nêu lí lẽ bênh vực hành động của mình: “Tranh quan không nhường chỗ, hạ thủ trước là hay.” Quyền lực thật nằm trong tay Đinh Liễn như đã thấy, và Liễn cũng chuẩn bị dư luận khi, sau lúc đi sứ về (973) đã dựng cả hàng trăm bảo tràng trong đó có một cột khắc kinh cầu thọ (cho mình), có ý muốn tìm quyền lực bảo trợ từ tận cõi thiêng. Nhưng Đinh Tiên Hoàng lại thấy khác trong trách nhiệm của mình.

Chúng ta chỉ biết tên Thích gia của cậu bé xấu số kia là Đại đức Đính-noa-tăng-noa như bảo tràng để lại mà thôi. Còn sử gia về sau thì chép “hạng lang” như một tên riêng của cậu mà hẳn không biết rằng với người ghi đầu tiên, đó là chuyển âm Hán Việt của từ Chàng Lớn, đúng với tôn xưng người đương thời gán cho danh vị Hoàng Thái tử của Nho gia. Và vì thế cậu mới chính là con trưởng của Đinh. Nho gia quan niệm người trưởng một dòng không phải là người lớn tuổi nhất mà là người con dòng chính. Tên Hạng Lang / Chàng Lớn chứng minh cậu là con dòng chính, là người có quyền kế nghiệp họ Đinh. Sử không ghi tên mẹ cậu nhưng một dấu hiệu khác cũng giúp ta nhận ra: Người được phong kế tiếp, Đinh Toàn, là Vệ Vương (phòng giữ, phù trợ cậu Hoàng Thái tử.) Không thấy Đinh Liễn đâu cả. Và Đinh Toàn được xác nhận có mẹ là Dương Hậu, mẹ Ngô Nhật Khánh, có thể là vợ Xương Văn, và do đó gộp lại, là mẹ của “Hạng Lang.” Đinh Bộ Lĩnh lấy đất của họ Ngô phải tìm chính danh bằng cách lấy vợ của người chủ trước. Bà Dương này không hẳn là bà Dương của Ngô Quyền, nhưng vai trò của bà Dương này trong sự trao ngôi cho Lê Hoàn về sau chứng tỏ sự quan trọng trong việc liên kết với họ Ngô cũ qua họ Dương đã trở thành dấu hiệu tượng trưng của tột đỉnh quyền hành đương thời. Danh hiệu Đại Thắng Minh Hoàng Hậu của triều mới vẫn giữ như của triều cũ nơi ông vua Đinh: Đại Thắng Vương, rồi lại truyền ghép cho vua Lê với dạng gần cận trên trụ đá 1005: Đại Thánh Minh Hoàng Đế, đến cả ông con Long Đĩnh lạc dòng nữ mà cũng gượng lấy tôn hiệu là Đại Thắng Minh (Quang Hiếu) Hoàng Đế. Và bà được sử trang trọng ghi năm chết (1000), được ngồi chung trong điện thờ với cả hai ông chồng suốt trong vài thế kỉ. Vậy mà sự liên kết thông gia giữa Ngô và Đinh lúc bấy giờ lại có dấu hiệu khủng hoảng trầm trọng vì sự bỏ trốn của Ngô Nhật Khánh. Sử chỉ ghi năm Khánh về thất bại, chết ở cửa Đại Ác (979) nhưng nhắc lại lời Khánh rạch mặt vợ họ Đinh: “Cha mày ức hiếp mẹ con ta…” Có thể Khánh bỏ đi trước năm 978 để Đinh Tiên Hoàng tưởng phải có hành động bù đắp sự tan vỡ của liên minh Ngô Đinh bằng việc chỉ định những người con bà Dương làm kẻ kế nghiệp. Ông tưởng có thể ngăn chặn được phản ứng của người con lớn từng xông pha trận mạc, nay đang có thực quyền.

Đinh Liễn giết Hạng Lang, xin lỗi mua chuộc thần Phật, tưởng có thể an tâm nắm vững quyền hành, lại cũng không ngờ rằng ý thức tâm linh mình chia xẻ với người đương thời đã đem đến kết quả bất ngờ cho dòng họ. Họ Đinh thờ một thần núi nhỏ ở thôn Đàm nhưng khi mở rộng cương thổ thì thấy có một thần núi lớn trong vùng, thần núi Đồng Cổ, nơi chứng kiến những buổi hội thề to lớn, có uy thế vì liên hệ đến tập tục trống đồng từ xưa, nên thần được coi là vị chủ trì cao cấp: Thiên hạ minh chủ thần / vị thần chủ trì việc thề bồi khắp cả thế gian. Đinh Liễn tin có Phật độ trì nhưng người dưới quyền lại tin vào những lực lượng thiêng liêng khác yểm trợ hành động của mình. Đỗ Thích là một người như vậy. Người nô (“hoành”) / ông quan (“hầu”) – quan đối với hàng dân giả, nô đối với ông hoàng đế, vị Hoành/Hoằng Phúc hầu ấy nằm canh gác ở cổng ngoài thành Hoa Lư, chợt thấy sao sa vào miệng, tưởng được ơn phước linh thiêng có thể lập cơ nghiệp lớn nên trở về cung giết cả hai cha con họ Đinh. Lại cũng một người của họ Đỗ danh tiếng, nhưng sự kiện xảy ra khiến nổi bật cái nhược điểm của chế độ Hoa Lư: sự vững mạnh của nó chỉ bằng vào thực lực thân xác của thủ lãnh mà thôi. Kết quả của một cuộc bạo hành đơn lẻ như kia cũng dễ đoán: Đỗ Thích bị Nguyễn Băc lôi ra giết, băm nát thây như một cách xử trí giản dị của hình thức trả thù tư và thi thố luật pháp công. Nhưng người dân đương thời lại quan tâm hơn đến ngôi sao trong mình Đỗ Thích, nên giành lấy những mảnh thịt băm ấy mà ăn, để mong hưởng chút ân sủng của Thiêng liêng.

Tất nhiên cậu bé Đinh Toàn/Tuệ/Triền (974-991) lên kế nghiệp. Và tranh giành xảy ra. Đã thấy trong quá khứ quyền về tay thủ lĩnh mạnh nhất thì nay chiến thắng cũng phải về tay người “tổng tư lệnh” Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn. Nguyễn Bặc, Đinh Điền bên trong Kinh đô, bị giết. Một phe chống đối bên ngoài, Phạm Hạp cũng không thoát khỏi nhưng có vẻ được toàn mạng để có một người họ Phạm giúp Hoàn lên ngôi sau này. Biến động mất nghiệp Đinh được sử gia tăng lục của Lê ghi giản dị như một bài kệ quen thuộc của họ: “Đỗ Thích giết hai Đinh, họ Lê xuất hiện bậc Thánh, tranh nhau nhiều kẻ chết, đường xá người vắng tanh, Mười hai (vẫn là mười hai!) kẻ xưng Đại vương, mười ác không một thiện, mười tám kẻ (trí giả, La Hán) bỏ đi, (sao) Kế Đô (việc soán đoạt xảy ra) trong hai mươi ngày.”

Việc Lê thay Đinh đã làm cớ cho một biến động bên ngoài. Tống đã thống nhất đất nước, tràn xuống phía nam sát cửa ngõ Đại Cồ Việt, biết nội tình rối ren nơi này nên cũng tính chuyện thu hồi lại thuộc địa như ý định bày tỏ trong chiếu tiến quân năm 980 gửi cho vua Việt. Toan tính thì lớn nhưng việc thực hiện lại khởi đầu bằng nhận định bất chợt của một viên quan biên viễn (Hầu Nhân Bảo, coi châu Ung) nên sự điều hành chuẩn bị không mang tính toàn lực của đế quốc, dẫn đến kết quả thảm thương khiến chùn tay nhà Tống đang hưng khởi. Lê Hoàn mang quân chận xâm lược, giết tướng, bắt người khiến Tống thu vuốt, đổ lỗi cho nhau, rồi trừng trị nội bộ, rửa mặt cho phải phép.

Sự chuyển biến của chế độ thủ lãnh trong tình hình mở rộng địa vực Hoa Lư

Người cầm đầu chính quyền Hoa Lư lần này vốn xuất thân từ bên ngoài khu vực (dù ngày nay còn phân vân gốc Thanh Hoá hay Hà Nam) cho nên phải tìm thế phát triển vượt khỏi sự ràng buộc của tập thể nắm quyền cũ, gốc kinh đô. Thêm nữa, tính chất xa rời quá khứ thuộc địa lại càng thấy rõ hơn với người cầm quyền mới. Ngô, Đinh còn có dáng con cháu quan lại cũ. Lê Hoàn (941-1005) chỉ được sử ghi tên cha trống trơn, nhưng mẹ lại có họ, một chứng tích về chế độ tông phả theo mẫu hệ, đúng với thực tế xã hội giản dị đương thời, dù là ở tầng lớp cao. Các vua Ngô, Đinh chết đi chẳng có thuỵ hiệu, miếu hiệu gì cả, sử quan về sau đành gọi là “chúa, vua đầu tiên” (Ngô Tiên Chủ, Tiên Hoàng Đế); còn Lê Hoàn chết đi, xác để đó chờ con cái tranh giành nên tạm gọi là “ông vua chưa chôn” (Đại Hành/Hạnh Hoàng Đế) rồi trở thành miếu hiệu vĩnh viễn cho sử Việt. Ông Phế Đế họ Đinh mất ngôi vẫn đi theo phụ giúp người cướp quyền đánh giặc, chết trên mặt trận được chủ mới kêu trời than khóc, tấn công thắng giặc, trả được thù! Ông vua cuối cùng của họ Lê được sử ghi bằng một cái tên chỉ có ý nghĩa chế nhạo: Ngoạ Triều, từ căn bệnh trĩ được gán cho từ sự khinh miệt, chê trách.

Ông vua tên Hoàn không biết có họ gì, nhưng mang họ Lê vì làm con nuôi một quan sát sứ họ Lê ở châu Ái. Một sự xác nhận ơ hờ giản dị nhưng đầy nội dung phức tạp bị che khuất. Chế độ “con nuôi” như với Trần Lãm và Đinh Bộ Lĩnh vừa qua (còn kế tiếp với Lê và con ông, phía người vợ) chứng tỏ một sự liên kết, từ đó suy ra, bản thân gia đình ông Thập đạo không phải là thuộc hàng thấp kém. Ông Quan sát sứ họ Lê không còn đủ tên kia, xét theo danh vị quan sát sứ trong cấp bậc chính quyền thuộc địa, vốn không phải là kém thế cho nên mới đưa được ông con nuôi đến nắm quyền tổng tư lệnh quân đội Hoa Lư. Và vì sự phức tạp của những lực lượng ẩn khuất như thế nên dưới quyền họ Lê, ta thấy xảy ra những biến động không phải chỉ loanh quanh ở Hoa Lư để điều này lại đưa đến những thay đổi, riêng trong triều đình họ Lê và chung trong tình hình nắm quyền theo chế độ suy tôn thủ lãnh cho đến lúc này. Thủ lãnh phải chứng minh bản thân là đầy năng động như Lê Hoàn và các con nhưng quá khứ thuộc địa và sự đe dọa của chủ cũ vẫn còn thấy lởn vởn nên ngay trong triều chính, tầng lớp trí thức vẫn hướng về phương Bắc. Thiền sư Đỗ Pháp Thuận khuyên vua trị nước (987) bằng cách “Vô vi trên điện các” sẽ dẫn đến tình trạng “đâu đó dứt đao binh.” Thế mà ý tưởng hướng dẫn việc trị nước như thế có dáng Đạo Giáo (đã từng làm nền cho sự chuyển tiếp của Phật Giáo vào Trung Hoa) lại rất gần với quan niệm Ấn về vai trò của vị “chủ tể thế giới” chủ trương không cần sử dụng quyền lực, chỉ cần nêu giá trị đạo đức, tinh thần để đem lại giải thoát cho dân chúng dưới quyền. Dấu vết Ấn ấy hẳn không phải đến từ phương Bắc mà là qua các nước phương Nam rồi dừng lại ở Hoa Lư, đánh dấu thêm sự phức tạp – và chông chênh, của tổ chức quyền bính nơi này.

Chiến tranh thắng Tống đã đem thêm uy quyền Hoa Lư trên vùng đất phía bắc. Lê Hoàn do đó chia đất cho các người con trai vừa như ông cha chia ruộng nhà vừa như ông vua phân phong đất đai cai trị. Ông đã cày mở mùa trên các khoảnh ruộng trong vùng trung châu. Trong 13 người con (có một “con nuôi”) thì 7 người đã trấn nhậm phía bắc, 3 người con lớn ở lại kinh đô, người cuối chỉ lộ diện ở đời sau. Có thể do sự phân phong ở phía bắc này mà Lê Hoàn còn tạo thêm mối liên hệ hôn nhân với tập đoàn Thái phía tây bắc để có bà hoàng hậu Trịnh Quốc – Trịnh là từ âm “chiềng” Thái chỉ khu vực trung tâm của một Mường. Năm 1000, có trận đánh “giặc ở châu Phong là Trịnh Hàng… Hàng chạy vào vùng Tản Viên.” Tất nhiên trước đó tình hình vẫn không là yên hẳn: năm 997, Lê Hoàn còn cầm quân đánh vùng Đỗ Động hẳn vì con cháu sứ quân cũ nổi dậy. Năm trước lại có chuyện tiến đánh các vùng biên giới, xúi giục thủ lĩnh các nơi này quậy phá Tống.

Sự hung hăng của Lê và sự rụt rè e ngại chiến tranh của Tống đã đem lại những thuận lợi về phía Lê. Sứ thần hai bên qua lại: Lí Giác (986, 987), lần đầu hoà hoãn là để giải quyết cuộc chiến 981; sứ bộ Tống Cảo năm 990 để lại một ghi chép quý giá về chính bản thân (kể cả tướng mạo) vua, về triều đình Hoa Lư và dân chúng, về sinh hoạt đương thời, còn lại đến ngày nay một ít qua Lê Tắc (An Nam chí lược) nhưng đầy đủ hơn trongVăn hiến thông khảo (thế kỉ XIII) của Mã Đoan Lâm. Giao thương mở rộng khiến cho tiền Thiên phúc trấn bảo có chữ “lê” đổ nhiều trên vùng biên giới làm ngạc nhiên những nhà sưu tập.

Nhưng sự bất an là ở phía nam mà bản thân gốc quyền bính phương nam của Lê Hoàn cũng đòi hỏi phải có sự khuất phục. Ông đã phong đất cho hai con ở vùng Thanh Hoá: Định Phiên Vương Tung ở thành Tư Doanh và Nam Quốc Vương Mang ở châu Vũ Lung, nhưng rõ ràng họ không thể tự lực quản trị. Ta thấy Đinh đành phải để Lê Lương tự trị, không kiểm soát được ông quan sát sứ cha nuôi Lê Hoàn hẳn cũng có liên hệ gì với dòng họ Lê “nuôi” ông tổ Hồ Quý Li sẽ thấy nổi lên từ đầu Lí. Tính chất tự trị của họ mang dấu vết khu vực nhỏ là “giáp” nhưng có thực lực khá lớn, bởi vì Lưu Kế Tông, một quản giáp liên minh đi theo Lê Hoàn đánh Chiêm năm 982 đã ở lại làm vua nơi vùng đất trống quyền hành ấy sau khi quân Việt Hoa Lư rút lui. Nhưng rõ hơn hết là dòng họ Dương với Quản giáp Dương Tiến Lộc. Gọi là người này được “sai đi thu thuế hai châu Hoan, Ái” nhưng đúng là Dương nắm quyền ở đấy, có lẽ coi là quyền lợi riêng thừa hưởng từ dòng họ nên không chịu nộp thuế cho Hoa Lư và “đem người hai châu ấy xin về với Chiêm Thành” (989) để tìm vây cánh bên ngoài.

Tên Chiêm Thành, “thành (nước) Chiêm”, bắt đầu được sử Trung Quốc dùng để chuyển vừa nghĩa vừa âm từ danh xưng Campapura thấy trên bia Mĩ Sơn, phải đợi thời gian rất lâu mới đến tai sử quan Bắc. Sự khủng hoảng của đế quốc Đường hẳn cũng góp phần vào sự hưng khởi của vương triều Indrapura (bắt đầu khoảng 875) mà trung tâm thuộc vùng Quảng Nam ngày nay. Họ tan rã sau cuộc khiêu khích ngoại giao (cầm tù sứ thần) khiến Lê Hoàn đem quân giết vua, bắt người cướp của (982) khoe với sứ Tống mà hẳn cũng với dụng ý phô bày thực lực, đe dọa chính quyền phương Bắc. Chiến lợi phẩm làm giàu cho Hoa Lư nhưng cũng đem lại yếu tố Chiêm trong tình hình của một kinh đô hậu thuộc địa đòi hỏi chuyển đổi, gây tranh chấp. Hoa Lư dù chiến thắng cũng không ràng buộc được một bộ phận của liên quân đánh Chiêm là Lưu Kế Tông. Ông quản giáp này đã ở lại chiếm vùng đất trống, nhân Indravarman IV mất (986) liền xưng vương, sai sứ là Lí Triều Tiên sang cống Tống, mãi đến năm 989 mới chết, vì thời gian cai trị quá ngắn nên không đủ dựng một triều đại cho Chiêm hay Việt.

Chính quyền Chiêm phải rút về Phật Thệ (Vijaya, vùng Bình Định ngày nay) với Harivarman II lên ngôi (988). Trong tình thế ở xa và yếu thế hẳn Chiêm không thể, và dám liên kết với Dương Tiến Lộc theo lời yêu cầu của ông này. Thế là Lê Hoàn thành công trong việc đánh bắt người chống đối, sử ghi ông “giết dân hai châu (Hoan, Ái) không biết bao nhiêu mà kể.” Có vẻ là nhân dịp này dòng họ Lê Lương cũng mất luôn đất vì ngôi chùa Hương Nghiêm ở Thanh Hoá của ông Dịch sứ đã tàn tạ khi Lê Hoàn lại đến năm 1003. Và thế là ta thấy có những công trình khai thác trên đất hai châu mới chiếm, cũng là một biểu lộ củng cố quyền lực đích thực của Lê Hoàn trên vùng căn bản của mình. Đã có trận chiến vùng cao Thanh Hoá chống sự tràn lấn về đông của tập đoàn thiểu số Cử Long (Mường? Thái?) Có việc đào kênh trên đất Nghệ An mở đường giao thông, có vẻ như muốn nối dài mối giao thương với vùng nội địa Angkor qua sông Mékong. Công việc chưa xong thì ông đã chết đi để người nối nghiệp vì mối liên hệ thân tộc lại chú ý nhiều hơn ở phía nam.

Tính chất truyền nghiệp lúc đầu có vẻ được xác định nhờ ảnh hưởng của Thái sư Hồng Hiến (+988) “người Bắc, thông hiểu kinh sử… làm quân sư, mưu bàn việc nước..,” cho nên trong quyết định 989 có Thái tử Thau là Đại Vương, hai người phòng hờ chỉ được tước Vương. Thế rồi, Thái tử mất trước (1000), trong quyết định 1004 khi Lê Hoàn thấy mình suy nhược, cấp thời lại có sự thay đổi đáng kể: người thứ ba là Long Việt được làm thái tử, gạt người thứ hai (Ngân/Long Tích) sang bên. Điều đáng lưu ý là kẻ tranh chấp ngang ngửa với Long Việt lại là em, Long Đĩnh, người được sử ghi là “trước xin làm Thái tử, vua có ý muốn cho” nhưng triều đình khuyên đừng bỏ trưởng lập thứ nên thôi. Ưu thế đồng loạt nổi bật của hai người này khiến ta phải xét đến nguồn gốc của họ.

Theo chứng cớ thoát ra ngoài tính chất kì thị chủng tộc của sử gia Nho thần thì Long Việt, Long Đĩnh cũng là con của một bà phi gốc Chàm hẳn bị bắt trong trận chiến 982. Năm sinh 983, 986 của hai người, tước phong “Vua Cõi Nam” cho Long Việt cũng là chứng cớ phụ. Có thể còn một người thứ ba: Nam Quốc Vương (Long) Mang (sinh 994?), hay thứ tư: Minh Xưởng đi Tống xin Kinh năm 1007 nhưng dấu vết không chắc chắn lắm. Những bình luận đầy thiên kiến của các sử quan về sau càng làm nổi bật tình trạng truyền ngôi có thể gọi là bất thường này. Chúng ta không có chứng cớ nào để hiểu về quyết định của Lê Hoàn trừ việc cho rằng ông đã đặt bà phi Chàm vào địa vị sau mẹ của Thái tử Thau, và cùng với sự kiện không còn Hồng Hiến có uy tín thuyết phục bên cạnh, ông đã làm theo sự thiên ái riêng tư, xa lạ với tính chất kì thị của đời sau, không nệ vào lí thuyết học được. Cuối cùng Long Đĩnh giết anh – như hành động tranh giành quyền lực bình thường của kẻ mạnh ở thời gian vừa qua. Ông sẽ làm vua trong một xứ sở đầy mâu thuẫn mà sự chọn lựa phía nào cũng gây nên chống đối ngấm ngầm cho vị chủ tể cuối cùng của chế độ thủ lãnh Hoa Lư.

Cùng với người anh, cùng là vua Chàm trên đất Việt (nếu nhìn) theo thông tục phía mẹ, ông không làm vừa mắt nhiều người ở Hoa Lư trong truyền thống Hoa hoá của thời thuộc địa, xa rời tính Ấn hoá ở phương Nam. Ông không đặt miếu hiệu cho cha, cho anh, chôn cất họ (cũng như sau này người ta chôn cất ông) không theo thói tục Hồng Hiến dạy. (Miếu hiệu Trung Tông của Long Việt có vẻ là do nhà Lí đặt ra, phù hợp với chuyện Lí Công Uẩn ôm thây Long Việt khóc, chứ Ngô Sĩ Liên tuy đã dùng danh xưng đó mà vẫn trách cứ việc không chôn cất vua theo nghi lễ Nho.) Vậy mà chung quanh Ngoạ Triều còn không thiếu những thân thuộc đồng chủng đã thoát một chừng mực địa vị tù binh nhờ uy thế mẹ ông, và bây giờ được nâng đỡ theo ông, từ đó ông có “bạn” để vui đùa trêu cợt, để ăn món khác lạ. Người ta chê trách ông giành việc giết mổ súc vật là theo quan niệm họ học được ở kinh sách xa chứ cha ông, Lê Hoàn, chân trần lội nước câu cá, cũng đâu có sống cao sang gì? Ông giữ món ăn kì nhông của quê mẹ khiến sử quan không hiểu phải gọi bằng tên con thằn lằn chạy bắt mối trên trần nhà. Cứ thế mà người ta căm ghét ông, và trong lúc với vua cha, phải cần chứng nhân ngoại quốc tả rõ hình dạng thì ngay với ông, sử quan nội địa lại cho biết nhiều về tính cách riêng để qua đó ta hiểu về thời đại, về cuộc sống của một thủ lãnh Vùng chịu đựng các ân oán, tranh chấp căng thẳng. Sử quan chê ông hành động tàn nhẫn, bất hiếu nhưng thật ra ông chẳng làm gì khác hơn những người Bana gần đây, theo quan sát của một nhà dân tộc học, là đánh tù binh và gõ nồi chảo trong lễ mừng chiến thắng. Và vẫn tiếp tục công việc của người cha, ông hướng sự phát triển về phía nam: đào kinh, đắp đường, dò lối qua sông… Hình như trong thâm tâm ông vẫn muốn trở về chiếm lại đất mẹ.

Tuy nhiên không thể mãi là vua Chàm trên đất Việt đã Hoa hoá cả ngàn năm, nay vẫn còn phải tìm đường đối phó với chủ nhân cũ. Sứ Việt đi Bắc vẫn phải thường xuyên, kể cả việc cầu thân khéo léo vuốt ve tự ái nước lớn như xin ân huệ ban phát Kinh Tạng. Hồng Hiến mất đi nhưng chắc đã để lại một lớp người cùng khuynh hướng còn chút ảnh hưởng khi can Lê Hoàn đừng bỏ trưởng lập thứ. Cuộc khủng hoảng tranh chấp đã qua, quyền bính đã vững thì Long Đĩnh phải thấy ra trào lưu chính đang ngự trị ở Hoa Lư. Thế là có sự “sửa đổi quan chế, triều phục của các quan văn võ và tăng đạo theo đúng như của Tống.” Vua có người pha trò khôi hài, có kép hát Tống hành xử đón ý làm vui, có cung tần để thư giãn những lúc nằm dài tham dự triều chính đến nỗi có tên Ngoạ Triều lưu danh trong sử sách, được người ta coi là hậu quả của căn bệnh trĩ mà không lưu ý rằng vua còn cỡi ngựa được cả trước khi chết. Sự căm ghét Ngoạ Triều rõ ra là có căn bản tự đương thời.

Vậy là sức trì níu của Hoa Lư có cộng thêm chút hơi hướng Chàm rơi rớt nơi đất lạ cũng không cưỡng lại được đà tiến về phía bắc. Kinh Đại Tạng mang về làm vững chắc thêm lòng tự tín của tầng lớp tăng đạo Hoa hoá, cảm thấy tức giận khi Ngoạ Triều róc mía lên đầu Tăng thống Quách Ngang, sư trưởng của phe phái mình. Cho nên khi Lí thay Lê thì không phải là một bà hoàng hậu chứng giám sự đổi đời mà là một nhà sư hiện diện với cả âm mưu không che đậy. Lại cũng một màn binh biến mang tính thủ lĩnh mạnh, lần này thêm chút tính “quần chúng” từ tập họp tôn giáo. Cuộc đảo chính mang tính cấp bách hơn: Lí đã cướp quyền Lê chỉ sau hai ngày Ngoạ Triều mất. Thời thế đã khác với các yếu tố dân sự chen vào Hoa Lư trong mấy mươi năm. Người cầm quyền mới lần này không phải là tổng tư lệnh mà là một chỉ huy trưởng khu vực thủ đô, thế lực tuy phải chia sớt nhưng vẫn còn ở vào vị trí có thể tranh quyền. Lí Công Uẩn, kẻ lập ra nhà Lí, là người trông coi quân địa phương phòng vệ, quân Tứ sương, lên Tả Điện tiền chỉ huy sứ, từng tỏ dấu hiệu phản đối khi Long Việt bị giết mà không bị Long Đĩnh trừng trị. Ông còn phải gạt sang bên mà không thấy giết, một kẻ đồng sự chắc là hơi thất thế hơn: Hữu Điện tiền chỉ huy sứ Nguyễn Đê. Thế lực riêng của ông là nhóm lưu vong Trung Quốc có địa vực căn bản ở trung châu phía bắc (đất Cổ Pháp, Bắc Ninh ngày nay) mà vươn được cánh tay quyền hành đến tận Hoa Lư. Vì thế phải đảo chính gấp, và tránh né Hoa Lư. Sự kiện này cũng có ý nghĩa là một tiến trình li khai mà các biến chuyển vững vàng về sau đã khiến cho họ Lí trở thành chính thống trong lịch sử Việt. “Dời đô,” Lí Công Uẩn không những giải quyết được vấn đề phản đảo chính mà còn có hi vọng củng cố sự nghiệp lâu dài hơn từ đất căn bản của mình.

Phụ lục 1

LƯỢC THUẬT BÀI HÀNH LỤC CỦA TỐNG CẢO

Sứ bộ (Tống) Cảo chúng tôi trở về, xin kể lại về hình thế sông núi cùng sự tích Lê Hoàn để trình lên:

Cuối mùa thu năm ngoái [990] chúng tôi đến địa giới Giao Chỉ thì có viên Đô chỉ huy sứ của Lê Hoàn là Thừa chính họ Đinh đem chín chiếc thuyền, ba trăm lính đến châu Thái Bình đón tiếp, theo cửa ra biển lớn, vượt nhiều cơn sóng gió nguy hiểm, nửa tháng mới tới sông Bạch Đằng, theo thuỷ triều mà đi, mỗi chỗ nghỉ đêm đều có quán dịch, đến châu Trường rồi (mới) đến tận (chính) nước. Hoàn đem hết thuyền bè chiến cụ dàn ra, lấy cớ là tập trận. Từ đó đi cả đêm tới bờ biển chỉ cách châu Giao hơn mười dặm. Thế rồi quân hộ vệ của Hoàn tới làm lễ nghênh tiếp ngoài biên. Hoàn dừng ngựa nghiêng mình, hỏi thăm sức khoẻ của Hoàng đế rồi cùng chúng tôi đi ngựa về, thỉnh thoảng mời ăn cau trầu, là phong tục hậu đãi của xứ này. Trong thành không thấy dân chỉ có trại lính, phủ thự thấp hẹp, nơi cửa nhà có đề hai chữ “Minh Đức”. Hoàn nhận chiếu không lạy, nói là năm gần đây đánh giặc ngã ngựa đau chân. Qua hôm sau dọn bày yến tiệc. Ba trăm binh sĩ đều khắc chữ “Thiên tử binh” trên trán. Binh khí chỉ có cung nỏ, thuẫn bằng gỗ, gươm giáo… yếu ớt không dùng gì được. Bọn quan thuộc ai thành thạo thì chọn ở gần làm việc, có phạm lỗi nhỏ gì thì đánh đuổi đi, hết giận lại cho phục chức. Có cái tháp gỗ nhỏ vụng về thô kệch, một hôm mời Cảo lên, nhìn và hỏi: “Ở Triều đình có cái tháp này không?” Xứ ấy không có khí lạnh, tháng chạp cũng mặc áo cánh và dùng quạt.

(Phỏng theo bản dịch An Nam chí lược của Đại học Huế)

Bài tường thuật cho thấy sự giao tiếp bình thường giữa sứ Tống và vua Việt. Chi tiết Lê Hoàn lấy cớ ngã ngựa đau chân để không lạy chiếu, được thuật lại mà không kèm theo phê phán trong tờ tấu chứng tỏ ngay triều đình Tống cũng không coi là mất thể diện. Chúng ta có thể đối chiếu tình trạng này với các sử kiện thuộc các đời sau để nhận ra sự kênh kiệu của sứ thần Trung Quốc (không phải chỉ sứ Mông Cổ) và sự co rút khúm núm của các triều đại về sau, chứng tỏ mối liên quan phiên thuộc – thiên triều càng lúc càng đậm nét thất thế về phía Việt.

 

Phụ lục 2

THÁNH ĐỊA MĨ SƠN VÀ CÁC KINH ĐÔ

Mĩ Sơn là thánh địa Ấn Độ Giáo của vương quốc Champa nay thuộc xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 70km về phía tây nam, cách Hội An 40km. Đây là một thung lũng đường kính chừng 2km, xung quanh là đồi núi. Tấm bia sớm nhất ở đây cho biết vào thế kỉ IV vua Bradravarman sáng lập dòng Sinhapura, đã xây ngôi đền bằng gỗ dâng cho thần Siva, bị cháy sau hai thế kỉ và được xây dựng lại ở thế kỉ VII, còn lại đến gần đây.

Năm 1898, Mĩ Sơn được M.C. Paris phát hiện, đến 1902, H. Parmentier hoàn thành việc kiểm kê và phân loại hơn 70 đền tháp xây dựng từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIII. Trường Viễn Đông Bác Cổ đã làm việc trùng tu từ 1937 đến 1944 nhưng trong chiến tranh 1955-75 khu tháp bị tàn phá nặng nề, huỷ mất ngôi A1 đẹp nhất, vì B52 đánh phá mật khu Việt Cộng trong vùng. Đến năm 1975 thì trong số 32 tháp đền còn lại chỉ có khoảng 20 tháp giữ được dáng vẻ ban đầu. Sau năm 1975, công việc trùng tu giao cho một công ti Ba Lan. Phần lớn các tác phẩm điêu khắc ở Mĩ Sơn được người Pháp đưa về Viện Bảo tàng ĐàNẵng. Mĩ Sơn được nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào tháng 12-1999.

Ngoài ra trên đất Quảng Nam còn có các tháp (làng) Chiên Đàn (thế kỉ X) thuộc xã Tam An, huyện Tam Kì, tháp (làng) Khương Mĩ thuộc xã Tam Xuân I, huyện Núi Thành, có Kinh thành Trà Kiệu và Thánh địa Phật Giáo Đồng Dương.

Phế tích thành luỹ, đền tháp (làng) Trà Kiệu thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, được J.Y. Clayes khai quật năm 1927 cho phép đoán nó là kinh đô Sinhapura – thành Sư Tử của vương quốc Champa buổi đầu, từng bị tướng Đàn Hoà Chi (440) và Lưu Phương (605) cướp phá. Nhà khai quật tìm thấy toàn bộ nền móng các tháp phía bắc thành, hiện vật thu hồi được đem về Viện bảo tàng Đà Nẵng. Nay còn lại một số tường thành cao 3m, chân thành 6m, gồm 3 lớp: hai lớp gạch ngoài bao lớp đất sét bên trong. Nhà thờ Trà Kiệu được xây năm 1722 bên trong thành cổ, đến 1865 chuyển lên mặt thành hiện nay với hình thức tân tạo năm 1971.

Bản thân Đồng Dương – Indrapura (thuộc làng Đồng Dương, xã Bình Định, huyện Thăng Bình) vừa là hoàng cung, vừa là đền miếu thờ thần Phật, được coi là kiến trúc lớn nhất của Champa. Ta có thể nghĩ rằng tên “chữ” kia là từ tiếng gọi bình dân “đồng Dàng/Yang” để chỉ khu vực thiêng liêng này. Đây là một thung lũng, ba bề núi rừng, trước măt là đầm hồ rất dễ khô cạn mà cũng dễ bị lũ lụt. Chu vi phế tích có thể dài đến 1km với một bức tường gạch xây cao vững chắc, trên nền đất đắp cao, bao quanh toàn bộ kiến trúc khá rọng (Parmentier đo được 326mx155m.) Bức tường này vẫn còn vài đoạn ngắn, cao hơn 1m. Các xây cất bên trong được đặt theo trục đông tây, cách biệt bằng các ngõ vào có thần đá dữ tợn trấn giữ. Một con đường đắp cao dẫn vào cửa chính phía đông, hình cung gãy, kiểu dáng độc đáo, đến nay vẫn còn, gọi là Gopura. Quanh Gopura là vòng tháp stupa nhỏ mang dáng dấp Trung Hoa, nay không còn bao nhiêu. Một con đường dẫn đến sân trong rộng lớn cuối phía tây, giữa là tháp chính có 18 miếu nhỏ chung quanh, nay cũng không còn mấy. Tháp chính có bàn thờ tựa lưng vào tường phía tây. Một bức tường đứng đỡ lưng cho nó thêm vững chắc, dính với một bệ nhỏ, có vẻ để đặt một pho tượng Lokesvara (Quan Âm). Từ sân đền này có con đường ngắn về phía tây dẫn đến một phòng rộng, dường như là nơi để các nhà tu hành tham thiền nhập định, nơi này có một bệ thờ với tường tựa có vẻ là nơi đặt bức tượng Phật lớn bằng đồng. Trong khuôn viên nay là đất trồng rau, xưa kia có thể là nơi dựng nhà gác và cung quán xây bằng vật liệu nhẹ. Phía trước cửa, con đường phía đông dẫn đến một hồ nước nằm chếch hướng đông nam, nay dùng làm nước tưới tiêu, nối với một hệ thông khe lạch chung quanh vừa là đường dẫn nước vừa là hào.

Đó là tả theo các nhà nghiên cứu đã qua, nhưng theo một người đến tận nơi sau chiến tranh (1987) thì “trong khu di tích chỉ còn thấy một mảng tường tháp mà nhân dân địa phương thường gọi là ‘tháp sáng’”. Và trong năm 2008 lại thấy trên báo chí có lời kêu cứu về di tích sắp tuyệt tích này.

(Tổng hợp của B.P. Groslier, Lương Ninh, Ngô Văn Doanh, sách hướng dẫn du lịch Non nước Việt Nam)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s