Bài sử khác cho Việt Nam: Chương IV – Con đường đưa đến độc lập

Tác giả: Tạ Chí Đại Trường


Thân phận chìm nổi theo đế quốc Tuỳ Đường

Nhà Tuỳ tuy có đời sống ngắn ngủi (29 năm, 589-618) nhưng đã mở đầu cho sự thống nhất của Trung Quốc sau những thế kỉ phân li nên lực lượng tràn bờ của họ khi tái chiếm thuộc địa phương nam đã đặt lại nền tảng cai trị vững chắc, làm đà cho nhà Đường lâu dài tiếp theo, ảnh hưởng sâu đậm đến tương lai mảnh đất này từ trong tình trạng li khai tiến đến cơ hội độc lập.

An ninh của Giao Châu được vững vàng còn nhờ sức đàn áp của quân Tuỳ lên đất Lâm Ấp, nơi này cũng từng hưởng được những giai đoạn yên ổn để phát triển có khi đi đến độ tràn lấn ra phía bắc dẫn đến những phản ứng của chính quyền thuộc địa như đã thấy. Tiếng đồn Lâm Ấp có nhiều của báu lạ đến tai triều đình, vua Tùy liền sai Lưu Phương vươn trách nhiệm về phía nam hơn với chức vụ Hoan Châu đạo Hành quân Tổng quản để “kinh lược” / đi đánh Lâm Ấp. Họ không biết rằng từ cuối thế kỉ VI, nước này đã có tên Champa khắc trên bia đá Mĩ Sơn ghi việc đời Sambhuvarman mà tên Hán là Phạm Phạn Chí / Phạm Chí, và tên nước sẽ được xác nhận thêm trên bia Chân Lạp (668). Trong lúc đó thì những tập họp xa về phía nam cũng đã tổ chức thành vùng lãnh địa nhưng vì cùng chung hệ thống văn hoá nên các lãnh chúa ở đấy cũng đến xây dựng đền tháp ở Mĩ Sơn và lúc hưng thịnh cũng xưng mình là vua toàn cõi Champa. Do sự tiếp xúc lan xa nên lần đầu tiên Cựu Đường thư cho thấy có người mang dáng như dân Thượng ngày nay, hiện diện ở triều đình Tràng An: “Thời Đường Huyền Tông, Khai Nguyên thứ 12 (724), vua tế lễ Thái Sơn có rất nhiều người theo… trong đó có tả hữu hiền vương phía tây Nhật Nam, cà răng, xâm trán…”

Lưu Phương đánh Phạm Phạn Chí, chiếm thành đô Sinhapura trên vùng thung lũng Thu Bồn hiện nay, thu được nhiều vàng bạc nhưng chết dọc đường (605). Thái thú Giao Châu Khâu Hoà của Tuỳ hưởng thành quả đó, mở rộng chiến tích, thu lợi riêng từ các nước phía nam, được tiếng là “giàu như vương giả,” của cải hẳn không ít là từ cống phú của Sambhuvarman (+629) khi ông này trở lại Trà Kiệu, tái xây dựng đền Bhadravarnan ở Mĩ Sơn bị cháy từ trước, và của các con cháu ông (Phạm Trấn Long / Prabhasadharma +645) tiếp theo. Khi Tuỳ mất, Hoà đầu nhà Đường được chức Giao Châu Đại tổng quản, cai trị hơn 60 năm. Tên của thuộc địa cũng theo thời gian thay đổi nhưng danh xưng An Nam Đô hộ phủ từ 679 được lâu bền nhất, kéo dài mãi về sau, riêng từ “An Nam” vẫn còn đến hồi Pháp thuộc trên sách vở (An Nam sử lược 1920 của Trần Trọng Kim), trong dân chúng trước 1945.

Bắt đầu từ năm 622, Đường tổ chức lại toàn bộ thuộc địa, chia nhỏ để dễ bề cai trị cho nên đã bắt đầu có các tên huyện nguyên gốc từ quận – có lẽ là huyện trung tâm của quận: huyện Giao Chỉ, huyện Cửu Chân, và tên nhiều châu, có khi mang tính phù du, xuất hiện theo thời lấn chiếm rồí lại biến đi khi co rút quyền hành. Đại khái có đến hơn 200 lị sở mà quan trọng là Tống Bình (Hà Nội ngày nay) coi vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã, và nơi thứ hai ở vùng sông Cả vươn quyền lực về phía nam. Số lượng các châu ki mi cũng nhiều hơn, như về phía bắc đến biên giới Quảng Châu có 28 đơn vị. Đã bắt đầu thấy thành trì ở vùng Tống Bình như tử-thành (thành con – 618) của Khâu Hoà chống Nịnh Trường Chân, mở đầu tiếp tục cho các la thành, đại la thành ở thế kỉ VIII, IX rồi sẽ trở thành tên riêng cho vùng đất. Tổ chức hành chính như thế cũng chứng tỏ sự cai trị mang tính hợp lí, sâu sát với tình hình thực tế hơn các đời trước. Chế độ thuế má ở trung ương đã áp dụng được ở thuộc địa nâng tầm sinh hoạt của địa phương lên cao gần với chính quốc. Tuy lúc đầu có ông quan nhút nhát như Lư Tổ Thượng không dám đi nhậm chức ở Giao Châu đến nỗi bị giết, thêm việc đày các quan lại không được ưng ý đi phía nam chứng tỏ vẫn còn có sự e ngại vùng hiểm độc, nhưng lại là dấu hiệu khác cho thấy triều đình đã đủ vững tin nơi quyền lực bao trùm của mình trên khắp đế quốc. Địa phương đã có những người làm quan to trong triều Đường như hai anh em họ Khương – Công Phụ và Công Phục. Những người đi đày là trí thức nho sĩ, cựu quan chức nên cho thấy thêm các dấu hiệu sinh hoạt ở thuộc địa phồn tạp hơn. Họ thường tiếp xúc với trí thức địa phương, trong trường hợp này lại là những nhà sư, vừa vì là gặp kẻ “có chữ,” vừa hợp với tình trạng thất thế u uất bị xô lệch bên lề xã hội của họ. Nhà sư nằm trong một dòng tôn giáo quốc tế nên cho thấy cả những người đi thỉnh kinh, truyền đạo xuyên qua đại dương trên những tàu thuyền ngược xuôi buôn bán khắp vùng biển cả nối kết lục địa hải đảo mà An Nam, Lâm Ấp / Hoàn Vương là một bộ phận.

Hợp tác và chống đối ở phủ Đô hộ An Nam

Không nhà cầm quyền nào ghìm giữ được xã hội khỏi thay đổi bởi vì ngay chính sự chuyển đổi là có lợi cho họ, tuy nó chứa chất mầm mống đảo lộn mà họ phải lo đối phó, đề phòng. Cũng không ai tự dưng buông bỏ quyền lực nên vấn đề còn lại chỉ là sự cân bằng mà người cầm quyền thao túng được hay không mà thôi. Thuộc địa An Nam của Đường trong phát triển cũng tạo ra những vấn đề hợp tác và chống đối của dân địa phương như bất cứ nơi nào khác, còn dân địa phương thì cũng phải thay đổi theo với tình thế của thời đại dẫn dắt.

Cuộc loạn năm 687 xảy ra vì Đô hộ Lưu Diên Hựu bắt các hộ người Lí thay vì nộp một nửa thuế theo chủ trương triều đình dành cho dân không phải Hán, nay phải nộp đủ. Không thấy nêu lí do nhưng có lẽ dưới mắt viên đô hộ này, sinh hoạt của đám dân dưới quyền đã không có gì phân biệt rạch ròi với dân xâm nhập như suy tính của viên chức chính quyền trung ương ngồi ở xa vẫn bám giữ theo thông lệ từ những sự kiện nay đã trở thành lỗi thời. Diên Hựu vốn từng là nhân viên ưu tú dưới quyền Tể tướng Lí Tích của Đường nên hẳn không hành động cẩu thả mà chính là từ chiêm nghiệm thực tế đã dẫn ông đến ý muốn cải cách việc cai trị. Thuế được tính theo hộ chứ không phải là khẩu, quyền ân giảm được hưởng lâu dài trở thành quyền đương nhiên nên đến nay việc nộp đủ thuế dù là hợp lí vẫn có nghĩa là tăng thuế gấp đôi đối với các chủ hộ người Lí, những người lúc này đã có sự sản, có kẻ phục vụ dưới tay mà họ bao bọc và phải nộp thuế thay. Thế là loạn xảy ra, không phải vì một “chủ nghĩa dân tộc” khởi động hay có ý nghĩa của một cuộc bạo động vì bị áp bức. Diên Hựu giết người chủ mưu là Lí Tự Tiên. Dư đảng là Đinh Kiên vây phủ thành giết Đô hộ, phải có quân ngoài từ Quế Châu đến mới bình định được.

Ở đây chúng ta thấy thêm được một dấu vết của tầng lớp bản xứ. Những người này vốn không có họ, họ là một thứ tông phả, một quan niệm truyền dòng của văn hoá Hán. Lớp người khác-Hán chắc đã giữ mối truyền dòng theo lối sách Hán gọi là “phụ tử liên danh” – lấy tên cha làm họ con, với bằng cớ được bãi bỏ ở nước Nam Chiếu khoảng 823-859, còn thấy ở các nước Đông Nam Á ngày nay trong tầng lớp thấp, và dưới hình thức lệch lạc ở vùng xưa nước Việt thường được coi là trung tâm của Mê Linh. Sự khác biệt đó đã thấy trong lí do cải cách của các quan lệnh từ những buổi đầu như Nhâm Diên hay trong sớ của Tiết Tổng. Tầng lớp bản xứ bên trên muốn theo thời, có thể bắt chước các quan, dân đến cai trị mình nên cố khoác cho mình một “họ” để ứng hợp với yêu cầu của nền hành chính thuộc địa, để được coi là “hợp thời,” “tiến bộ.” Còn dân chúng bên dưới vẫn chỉ độc một cái tên gọi thường ngày, như mãi đến đầu thế kỉ XIII, trên tấm bia 1210, một số chủ ruộng cũng chỉ được gọi trống trơn: “thằng” Hàm, “thằng” Chạy, “thằng” Tạo… Cho nên tuy họ người Việt sau này mang dáng dấp sít sao Trung Hoa nhưng vẫn có thể nhận ra những khởi đầu thô thiển. Quan chức Trung Hoa gọi người khác-Hán là Lí, có vẻ từ tổ chức hành chính cơ sở mà họ áp đặt cho những người này, từ đó nảy sinh ra họ Lí – không kể các trường hợp dua nịnh họ “lớn”. Cuộc loạn Lí Tự Tiên đã được coi là của các “lí hộ” (dân các nhà trong làng xóm), thì bọn đầu đen, lê dân cũng có thể phát sinh họ Lê. Họ Phan từ tên gọi phiếm chỉ về người “phiên”. Người Thái với đơn vị “chiềng” sẽ có họ Trịnh. Và rồi phức tạp hơn, Phan chuyển qua Phạm, hay Phạm lại chính từ các âm kham/cam của Thái chuyển qua Việt thành Cầm, Phạm. Người dân thuộc địa đi vào sổ bộ để đánh thuế sẽ có họ Đinh trong ví dụ muộn màng là người dân Thượng phía tây Quảng Ngãi ngày nay, và cũng có thể thấy nơi người chống đối năm 687 đã đủ sức đánh giết quan Đô hộ của nhà Đường. Đinh Kiến mới chỉ là “dư đảng,” như thế người chủ mưu là Lí Tự Tiên hẳn có thế lực hơn nhiều.

Xa hơn về phía nam thì những người bản thổ có thế lực còn mang thêm dấu vết chủng loại rõ rệt. Người cầm đầu cuộc nổi dậy năm 722 ở đây có tên Hán Việt là Mai Thúc Loan / Thúc Yên / Lập Thành nhưng khi muốn minh chứng quyền hành đã xưng là Hắc Đế – hay được tôn xưng là Đế mà không đánh mất dấu sắc màu thân xác: đen. Không thể coi đây là ghi nhận về một trường hợp lẻ loi, một sự kiện tình cờ của cá nhân bởi vì một danh vị phải mang tính tượng trưng, đại biểu của nó, người nào muốn tìm quần chúng, thần dân ai cũng hiểu được điều ấy. Cho nên Mai Thúc Loan xưng “đen” là một hành vi có ý thức của kẻ chiêu tập người theo dưới cờ, mang màu da rạm nắng của dân hải đảo. Quân số gây rối được báo cáo về trung ương lên đến hàng chục vạn hẳn là khoa đại để tăng công tích tướng đánh dẹp nhưng việc tìm được tương trợ từ bên ngoài với những tên quen thuộc như Lâm Ấp, Chân Lạp hay xa lạ: Kim Lân (muốn vươn đến tận đất hạ-Miến của thư tịch Trung Quốc?) chứng tỏ có sự đồng cảm của những tập họp tương tự, dẫn đến mối liên hệ quyền lợi buôn bán lan về lục địa phía tây có dòng Mékong toả rộng, từ vị trí châu Hoan bao quanh quê hương người nổi dậy ở đông nam tỉnh lị Hà Tĩnh trên bờ biển Đông. Mai Thúc Loan thất bại nhưng cuộc nổi dậy có dáng như sự tái diễn một trường hợp thành lập Lâm Ấp thứ hai nếu thành công. Nhưng nhà Đường không phải là nhà Hán, và dân Hoan Diễn tuy vẫn còn ngập ngừng, chông chênh trong tranh chấp nam bắc suốt nhiều thế kỉ sau nhưng đã đậm màu Hán hoá, không dễ bị lôi kéo bởi những tập họp Ấn hoá nhỏ bé để có thể tách lần nữa ra khỏi khối Trung Hoa to lớn, vững chắc.

Trong những người nổi dậy chỉ có Phùng Hưng là được người đương thời có liên hệ tại chỗ ghi nhận: Đó là Đô hộ Triệu Xương, người đánh dẹp Phùng An (791), con Phùng Hưng. Danh vị “(biên khố) di tù trưởng” (tù trưởng mọi) mang ý khinh miệt nhưng “quan lang” là dấu vết gần đây, cho thấy không những ông không lệ thuộc lắm vào chính quyền đương thời mà vốn là một công cụ cần thiết cho họ giữ gìn chốn biên cương. Tên Đỗ Anh Hàn mà sử Bắc cho là thủ lĩnh cuộc nổi dậy, theo Triệu Xương là một kẻ chỉ dẫn cho Hưng tiến chiếm phủ Đô hộ chứng tỏ ông cũng không thụ động với các biến chuyển ngoài khu vực của mình. Đền thờ ở địa phương Đường Lâm cụ thể được xác định đến ngày nay, danh hiệu Bố Cái Đại Vương (hay Vua Cái Đại Vương, theo K.W. Taylor) còn lưu truyền là chứng tích hiếm có về một nhân vật lịch sử xa đời. Họ Phùng có vẻ không bị tuyệt diệt vì biến động nên hẳn còn con cháu nơi các nhân vật xuất hiện dưới các triều Lí, Trần cũng như họ Đỗ cùng sống trên đất Đường Lâm như ông.

Việt điện u linh tập dẫn Triệu Xương chỉ Đỗ Anh Hàn là người cùng quê với Phùng Hưng nhưng bằng chứng vật chất còn lại cho thấy địa vị Đỗ Anh Hàn quan trọng hơn nhiều. Ông này có tên trên cái chuông (“chuông Thanh Mai”) đúc năm 798, với chức Kinh lược Tiên phong Binh mã sứ, từng làm Thứ sử châu Ái, coi quân châu Trường (vùng Hoa Lư). Phùng Hưng mất năm 798, như thế chuông Thanh Mai được đúc trong thời kì họ Phùng chiếm quyền, và những người có tên trên chuông là nhân vật đương thời. Không thấy hành trạng về sau của Đỗ Anh Hàn nhưng một người khác: Đỗ Tồn Thành, được ghi là Thứ sử châu Ái thì khoảng nửa thế kỉ sau bị Đô hộ Lí Trác giết, sử ghi là “tù trưởng Man” và hình như vẫn còn được coi châu Ái. Năm 819, Dương Thanh nổi dậy giết Đô hộ, chiếm phủ thành, lại cũng được gọi là “đời đời làm tù trưởng Man,” sau khi lui quân lại lấy hậu cứ nơi người “Man Lạo,” chống cự đến cả mười năm trời. Thanh cũng được ghi là dòng dõi thứ sử châu Hoan. Tù trưởng Man làm chức quan lớn ở triều Đường không phải là điều lạ nữa, kể cả việc có người lên gần đến tột đỉnh quyền hành. Đó là Đỗ Anh Sách, Phó Đô hộ đời Đường Đức Tông (780-804). Lại cũng là thời gian có biến động Phùng Hưng nên không thể không liên tưởng đến người có tên họ gần giống: Đỗ Anh Hàn.

Ở đây lại có chứng cứ quan trọng là các nhân vật này đúng là dân bản thổ. Lê Tắc (An Nam chí lược) thuật chuyện Phạm Đình Chi và Đỗ Anh Sách (Phó Đô hộ) là những nhân vật giàu mạnh ở địa phương “khe động,” nhưng đối với Kinh lược sứ An Nam Bùi Hành Lập làm việc kiểm soát hành vi quan chức dưới quyền thì những người này chỉ là loại “bọ thuộc” trong tầm tay sinh sát. Trong khi Đỗ Anh Sách tuân thủ luật lệ thì Phạm Đình Chi cứ buông thả theo cuộc sống của mình, của tập đoàn mình, theo một phong tục địa phương mà quan Kinh lược không hiểu được: “tắm lâu chẳng về.” “Tắm” ở đây rõ ràng không phải công việc làm sạch thân thể thường ngày mà đúng là một hành vi văn hoá, một nghi lễ Rửa sạch tội lỗi như ta còn thấy trên sông Hằng, của dân Rađê đất Ban Mê Thuộc gần đây, hay nằm trong du kí của Châu Đạt Quan ghi vào thế kỉ XIII ở Chân Lạp, và cả ở đàng sau câu nói ngày nay tưởng là để đùa bỡn: “Có tội lội xuống sông hết tội.” Đáng lưu ý thêm nữa là khi quan Kinh lược đánh chết người phạm tội thì cho trả thây về bộ tộc và bảo chọn người khác thay thế, có nghĩa là vai trò của người bản thổ trong guồng máy cai trị không thể mất đi chỉ vì một người trong bọn lầm lỗi. Vậy là thủ lĩnh bản xứ, địa phương của Đường tuy vẫn còn ở địa vị phụ thuộc nhưng đã được phép tập luyện cầm quyền theo cung cách như những quan lại từ xa đưa tới.

Cả một hệ thống người nằm ngoài hay trong chính quyền thuộc địa như thế, đã khiến cho phủ Đô hộ An Nam có đủ người địa phương để tự quản một khi chính quyền trung ương suy yếu. Đó là điều sẽ xảy ra trong các thế kỉ tiếp theo.

Thách thức từ bên ngoài của chính quyền thuộc địa Đường

Đế quốc Đường to rộng nhưng không thấy có những cuộc chinh phạt về phía nam như những triều đại về trước. Chỉ có dấu vết họ đương cự mà thôi. Biên giới phía nam vẫn còn xê xích giữa vùng Hải Vân và Hoành Sơn. Đường giữ được vùng Tuỳ chiếm đến nửa sau thế kỉ VIII thì vì bận tâm với chiến cuộc ở Tây Vực nên phải bỏ đi để biên giới lại ra đến Hoành Sơn. Có vẻ như đây là thời cường thịnh của các triều đại Chàm ở phía nam, vùng Kauthara (Nha Trang) và Panduranga (Phan Rang), với những ông vua lần đầu tiên được ghi trên bia ở Phan Rang, là “vua tối cao đã từng thừa hưởng toàn bộ lãnh thổ Champa” hay trên bia năm 875 ở Đồng Dương (Quảng Nam) ghi là có vị vua gốc phía nam, được suy cử làm “vua duy nhất của đất nước… cai trị toàn bộ lãnh thổ Champa.” Thời kì này, sử Trung Quốc chép việc đổi tên nước là Hoàn Vương (750) với kinh đô Virapura đâu đó trong khoảng vùng Phan Rang ngày nay, theo với sự hưng thịnh bắt đầu từ trước trong những vụ việc phát triển quyền lực như cùng với Chân Lạp phụ giúp cho Mai Thúc Loan nổi dậy (722). Tên nước mới do đó có thể đoán theo nghĩa chữ Hán, có vẻ phản ảnh về một thời hưng thịnh trở lại (“hoàn”), tập trung thế lực trọn vẹn vào tay một chính quyền mạnh của phần đất mà quan lại Bắc còn nhớ là cựu thuộc địa của mình.

Đó cũng là thời kì phát triển thương mại Đông Tây dưới quyền lực của triều Đường đưa đến sự phồn thịnh lại của cảng Quảng Châu và do đó cũng ảnh hưởng gián tiếp đến sự hưng thịnh của triều đại Sailendra ở Java. Sử còn ghi việc năm 767, người Côn Lôn, Chà Bà (nghĩa là tập họp phát xuất từ hải đảo) đến cướp phá Giao Châu bị đánh tan trên vùng hạ du châu thổ. Bia Tháp Bà (Nha Trang) 774 ghi việc vua Satyavarman đánh đuổi “bọn cướp từ biển tới” đốt phá “nhà ở” của thần, mang đi đầu thần (kosa) và nhiều bảo vật. Đền thần được xây cất lại và năm 784 tạc tượng Yan Pu Nagara / Bà Chúa Xứ, là chứng cớ xưa nhất về việc thờ cúng Nữ thần Xứ sở của Champa.

Hình như những giao tiếp qua biển đã đem lại những yếu tố từ rất xa đến phần đông bán đảo Đông Dương. Thử nhìn lại người vũ nữ trên bệ thờ Trà Kiệu. Nó không giống với các nhân vật nữ tròn trịa, đầy đặn của Ấn Độ, nơi cỗi gốc văn hoá mà ta cho là người Chàm phải bắt chước theo. Lại cũng chẳng giống với các apsara Kampuchia trong khung cảnh chung, nhỏ nhắn hơn nhưng vẫn vú vê tròn trịa, thân xác đầy đặn của hình mẫu Ấn. Người vũ nữ Trà Kiệu rắn chắc, thon thả như thấp thoáng một dáng dấp Tây Phương, Hi Lạp lạc loài. Cánh tay dài hơi thừa nhưng sự vụng về của người thợ lại làm toát ra ý muốn của nghệ nhân định trình bày một nét mềm mại toát ra ngoài sự cứng cỏi của khuôn đá, của sự ràng buộc ở mẫu Ấn mà hẳn đương thời người ấy phải phải chịu đựng khi sáng tác.

Năm 808, Trương Chu làm Đô hộ, mở rộng La Thành, từ đó gọi là Đại La, khuếch trương lực lượng bảo vệ thuộc địa với hệ thống chiến thuyền, thuỷ binh to lớn. Năm sau, ông đánh phá Hoàn Vương, giết con vua khiến họ phải lui về phía Hải Vân, nhân đó Chu củng cố các thành luỹ phía nam, các châu Ái, Hoan. Sự kiện các thứ sử ở đây bị Chu dẹp bỏ vì liên hệ với Hoàn Vương chứng tỏ trước đó họ đã khiếp sợ trước uy thế lên cao của kẻ địch bên ngoài biên giới. Đây là thời đại của Harivarman I, không những lấn đánh Giao Châu năm 808 mà còn liên kết với tập đoàn bản xứ Quảng Tây “man Hoàng Động” để đổ bộ đánh phá vùng Quảng Ninh. Các bia ở Po Nagar 813 và 817 cùng những bia khác cho biết Hoàng tử Hoàn Vương hai lần lấn đánh Chân Lạp và chính Harivarman đã phục hồi thánh đường Po Nagar. Tuy nhiên đến đời vua kế tiếp mà ta biết một niên đại: 854, thì ngôi vua chuyển về một dòng họ phía bắc: Indravarman II với kinh đô Indrapura ở Đồng Dương (Quảng Nam) của triều đại coi Phật Giáo là tôn giáo chính, với các bia nói về luân hồi, Niết bàn, tăng đoàn (Sangha), Lokesvara (Quan Âm), với một tu viện lớn xây ngay trong thành (875) có các tượng nay còn nhiều tác phẩm lưu lại ở các bảo tàng. Có lẽ do sự thay đổi lớn đó mà từ năm 859, Trung Quốc đã gọi nước Chiêm Thành chuyển dịch từ tên đã ghi vào bia đá, thay cho Hoàn Vương. Nhưng mối lo của thuộc địa An Nam lại đến từ phía tây bắc.

Nam Chiếu, như tên gọi, là bộ phận phía nam của những tập họp thiểu số vùng tây nam Trung Quốc mang danh xưng người cầm đầu tổ chức, gọi theo phiên âm Hán Việt là “chiếu”, như sau này ta gặp những “chiêu”, “chậu”, “chao” trên vùng Lào Thái. Đây là dấu vết đầu tiên trong dòng sử Việt về sự xuất hiện của dòng tộc Thái xuôi nam trên bán đảo Đông Dương, tuy bị chận đứng bởi Cao Biền nhưng rồi sẽ âm thầm mà bền bỉ xuất hiện trong thời gian nối tiếp cho đến khi thành công trong lịch sử Việt. Trong phát triển bành trướng, Nam Chiếu đặt cả một chức vụ “Thác đông” nhắm vào Giao Châu / An Nam. Thành Thác Đông (nay là Côn Minh) được xây năm 765, đổi tên năm 781, cuối cùng trở thành Thượng Đô, Đông Kinh, thủ phủ của Nam Chiếu. Từ năm 846, Kinh lược sứ Bùi Nguyên Hựu đã phải chống đánh Nam Chiếu tràn xuống. Nguồn nguyên liệu muối mà vùng biển giữ độc quyền khiến Đô hộ Lí Trác (khoảng 847-859) chèn ép các bộ tộc thượng du buôn ngựa liên vùng từ Chân Lạp, khiến họ phải cầu cứu Nam Chiếu. Bên trong Trác lại giết Đỗ Tồn Thành, tù trưởng địa phương, thứ sử châu Ái (chắc lúc này đã già lắm vì từng hiện diện với chức chưởng trên năm 798). Trác lại bỏ ngỏ phòng thủ phía tây nên Lí Do Dộc ở đấy cô thế phải hàng Nam Chiếu. Từ đó là sự lấn chiếm liên miên của Nam Chiếu trùng hợp với những rối loạn bên trong phủ Đô hộ vì cách xử trí vụng về của quan chức cùng những mối mâu thuẫn giữa các cá nhân. Năm 858, loạn dân với 30000 người họ Đỗ vây thành, hẳn là vì cớ Đỗ Tồn Thành bị giết, cho nên hai năm sau, Đô hộ Lí Hộ lại giết Đỗ Thủ Trừng, con Thành. Nhà Đường phải phục hồi danh vị cho Thành, xin lỗi họ Đỗ nhưng vẫn không yên. Chiến dịch chống Nam Chiếu khiến Đường tổn thất đến hàng trăm ngàn quân mà La Thành vẫn bị vây, bị chiếm (863). Triều đình lục đục, Đường phải đặt cơ quan quản trị bên ngoài phủ Đô hộ, điều khiển từ xa, còn trong dân chúng thì nổi lên một phong trào “phản chiến” trên phần đất của trung ương, với bài thơ của Bì Nhật Hưu kết tội Lí Trác, tố cáo sự bất lực của các quan triều.

Cuối cùng, Đường phải cử Cao Biền lúc bấy giờ đang chống Đột Quyết phía tây, về kinh lí phương Nam. Cũng vẫn những lục đục nội bộ, ganh ghét công trận, nhưng cuối cùng Biền giết quân Nam Chiếu giữ thành, chiếm lại được An Nam (866), tổ chức cai trị thật chặt chịa. Cao Biền là một Mã Viện của Đường mà chưa thấy học giả nào ngày nay đem ra so sánh. Về mặt tổ chức cai trị, Cao Biền đã xếp đặt đến 159 hương cho phủ Đô hộ. Nơi phủ trị, ông xây thành vững chắc, to lớn hơn các đời trước. Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn năm 1010, nhắc đến ưu thế “rồng cuộn hổ ngồi” của “Đại La, đô cũ của Cao Vương” để làm bằng cớ cho sự chọn lựa “nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” của nhà Lí. Không những thế, từ kinh nghiệm hành quân gian khổ, năm sau ông lại còn đào kênh, mở thông đường biển, chuẩn bị dễ dàng cho những cuộc hành quân tiếp viện về sau phòng khi Giao Châu bị nguy khốn. Con đường thông thương này không phải chỉ có ích về mặt quân sự mà còn mở đường thương mại cho nam Trung Hoa (với đảo Hải Nam) và Giao Chỉ để nối kết với khu vực phía nam xa hơn khiến vịnh Bắc Bộ trở thành vùng giao thương phồn thịnh, có lúc được gọi là Giao Hải trong thế kỉ XI, XII. Hiệu quả to lớn của công trình thế tục được phản ảnh vào truyền thuyết linh thiêng như ở các biến động khác. Cho nên việc phá đá khai thông đường thuỷ khiến Biền nổi danh có thần phù trợ, và từ đó không phải chỉ là Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân ở Giao Châu của vua Đường mà còn được gán cho vương hiệu, rồi thành ông phù thuỷ cao tay ấn của bình dân nữa. Quyển Việt điện u linh tập mang đầy dáng dấp của ông quan Đô hộ phù thuỷ mãi đến năm thế kỉ sau khi ông ngự trị ở Đại La. Và còn truyền lại đến gần đây về chuyện ông “cỡi diều giấy bay khắp các nơi phá huyệt đế vương, chặn long mạch” phòng sự khởi phát của dân thuộc địa.

Di sản của phủ Đô hộ An Nam

Chúng ta đã thấy mức độ phát triển cao của đế quốc Đường đã đem đến thay đổi thuộc địa phương Nam của họ như thế nào. Trên bình diện chính trị, xã hội, những cải cách hành chính, thuế khoá chứng tỏ quyền hành cai trị đã đến mực sâu sát với dân chúng dưới quyền để ảnh hưởng lâu dài về sau. Mẫu tiền Khai nguyên của Đường có đời sống đến 7, 800 trăm năm, tên là “đồng” đi theo chất kim loại, và tính cách đơn vị đó được Việt Nam lưu giữ làm đơn vị tiền tệ đến ngày nay trong khi Đại Hàn / Triều Tiên: Won, Nhật: Yen lại mượn từ đơn vị “nguyên” của thời Nguyên, Minh về sau, tính tương đương với bạc. Đơn vị hành chính cơ sở của phủ Đô hộ đã có dáng như các hình trạng về sau: đại hương có từ 160 đến 540 hộ, từ 40 đến 60 hộ là đại xã, 10 đến 30 hộ là tiểu xã. Đó là nói về số lượng cư dân nhưng xét ở mặt diện tích thì chắc rộng hơn nhiều nếu ta so sánh hương Phù Đổng được biết thời thuộc địa với các làng xã được tách ra về sau của những người cùng thờ ông thần đá bên cạnh chùa của phái Quan Bích. Một tầng lớp ưu tú của xã hội gồm người chính quốc, người lai, dân bản thổ được phân công có thứ tự trên bậc thang quyền bính với những xâm nhập vươn lên của các cá nhân nhanh nhẹn, may mắn. Tổ chức hành chính chặt chẽ như thế sẽ làm nền cho các thời đại về sau khiến cho trong một khoảng thời gian dài, các triều đại có vẻ như chỉ làm một công việc là thu gom lại những mảnh vỡ của phủ Đô hộ thuộc địa sau khi người chủ ngoại quốc ra đi. Cho nên sẽ có tên “nước Đô Hộ” hình như ngỡ ngàng với độc lập của Ngô, có dấu vết biểu lộ ý thức của Đinh ở vị trí Đế mà còn mang dáng dấp cấp bực phủ nha (như chức Nha nội, như lời Đinh Liễn khi “tranh quan…” với em). Có tên “phủ Đô hộ” dai dẳng với quá khứ, co lại ở phần đồng bằng phía bắc đến tận đầu thế kỉ XV, nơi xuất hiện những hào trưởng hành động độc lập, hình ảnh ở trung châu của những thủ lãnh trên vùng ki mi.

Một vùng đất cứ mở rộng theo đà bồi đắp của phù sa tuy chật vật nhưng đủ nuôi sống một số lượng người lớn làm căn cứ cho sự bành trướng về sau, với một thủ phủ ở ngay trung tâm giao tiếp của một cơ cấu tổ chức đã thành hình chăt chẽ như thế, sẽ là nơi thu hút của các tập đoàn xung quanh muốn tranh giành quyền lực. Họ cứ tiếp tục đổ về đấy để đi đến thành công: nhóm lưu vong Lí từ đất Mân mang trên hành trình luân lạc của mình sức mạnh tiền bạc tích trữ của khu vực Mường Hoa Lư, nhóm tộc Đản Trần khởi đi từ miền hạ lưu với sức mạnh của vùng sông nước giang hồ, và lạ lùng ngoắt ngoéo hơn, là nhóm tộc Thái bị chận ngay trên rìa đồng bằng, không men theo được các lưu vực sông lớn từ phía tây bắc, lại luồn qua các sông nhỏ từ phía tây nam, qua những chặn đường phối chủng, địa phương hoá để leo lên đến tột đỉnh quyền hành trong nhiều thế kỉ với các tộc lớn có tên là Lê, Trịnh, Nguyễn…

Về phần tâm linh, Việt điện u linh tập của thế kỉ XIV cho thấy dấu ấn Đường trong thời kì độc lập về sau. Có thành hoàng, thổ địa đầy đủ cho nơi về sau đổi tên là Thăng Long. Có khu phía Đông thành mang tên Long Đỗ / Bụng Rồng, chứa chấp tình hình mất ổn định của một khu vực thương mại phồn thịnh lấn lướt ông quan Đô hộ, “báo hiệu” sự ra đi của quan chức cai trị phương Bắc. Có những nhân thần được lưu giữ không phải chỉ vì xuất hiện thời Đô hộ (như Phùng Hưng) mà còn dù ở các thời gian trước, vẫn được nhắc nhở trong thời Đường (Sĩ Nhiếp cho Cao Biền thoáng thấy uy danh.) Có nhiên thần về sau nổi bật tiếng tăm nhưng cũng đã thoáng hiện xác hình dưới thời Đô hộ: “Tập họp thần Tiền Lí” trên sông nước đã lộ uy danh từ đây trước khi thành Vương, Đế dưới triều Trần. Dấu vết đặc tính văn hoá Nam Á mà các học giả thời nay bàn đến (sự đối nghịch vùng cao, vùng thấp, vật trên núi vật dưới biển…) ít ra thì cũng thành hình dưới tích truyện địa phương được quan Đô hộ ghi nhận (Tăng Củng với truyện Cao Lỗ, Sơn Tinh Thuỷ Tinh.) Ý thức thần, người liên kết như thế có chỗ bám víu từ thời phủ Đô hộ đã làm nền tảng cho các triều đại độc lập về sau bồi đắp thêm chi tiết mới. Tập họp truyện tích Lĩnh Nam chích quái, nơi truyện Hồ tinh, cho thấy dấu vết người Thái Trắng “Bạch Y man” sống từ núi Tản Viên lan xuống đồng bằng đến tận hồ Tây với tục lệ hợp hôn buông thả còn thấy trong những hội lễ thời gần đây. Lại cũng thấy sự kiện “để lại áo” trong tục lệ cúng thần của lang đạo Thái chen vào truyền thuyết “dịch phục” của Thánh Gióng. Có vẻ đó cũng là ảnh hưởng từ các tập họp Thái sau những cuộc lấn chiếm của Nam Chiếu còn lại và phát triển tiếp sau thời ngoại thuộc.

Cũng thấy từ tổ chức ổn định lâu dài của đế quốc Đường mà thành hình một thứ tiếng “man” thống nhất trên một lãnh vực to rộng hơn trước. Người ta chỉ biết có một thứ tiếng “man” trên phủ Đô hộ nhờ chứng cứ giao tiếp của các nhân vật Trung nguyên lưu lạc, bị đày đến đây, tiếp xúc với các nhân vật bản xứ, như trường hợp Trương Tịch (đồng thời với Bạch Cư Dị, Hàn Dũ…) đến gặp “Nhật Nam tăng” hỏi thăm nhà bằng “Man ngữ.” Tuy nhiên cho đến nay, các học giả cũng chưa tìm ra được một câu, chữ nào đích xác là của đương thời. Có điều sự hiện hữu của một thứ tiếng nói bản xứ được sử dụng ngay ở tầng lớp trên cũng chứng tỏ ưu thế nội tại của nó, từ đó, qua vị trí trung gian của lớp người kia, nó thu nhận các từ ngữ, ý niệm Hán để thêm dồi dào sắc thái, một khi có sự đứt đoạn đối với mẫu quốc, nó sẽ phát triển hơn theo với đà độc lập chính trị xảy ra trong thế kỉ X.

Từ li khai đến độc lập

Trong sự chống giữ cho sự trường tồn của đế quốc, nhà Đường đã phải chịu luỵ vì loạn biên trấn của các chỉ huy ở đấy mang danh hiệu Tiết độ sứ với quyền lực rất lớn. Dấu vết suy yếu mở đầu là loạn An Lộc Sơn thời Đường Minh Hoàng (713-755). Triều đại gượng dậy được nhưng mối lo về Tiết độ sứ ám ảnh mãi, ảnh hưởng đến cả chính sách của triều đại Tống tiếp theo. Về phía cực nam, lúc bấy giờ có ba Tiết độ sứ: một ở Quảng Châu, một ở phần tây Lĩnh Nam, và Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ trên đất An nam, đầu tiên giao cho Cao Biền quản nhiệm (866). Sự tái lập quyền hành của Cao Biền ở đây phải chịu đổ vỡ vì loạn Hoàng Sào (879-884) cướp phá Quảng Châu, đòi cai trị đất An Nam, gây suy sụp, mở đầu cho những triều đại yếu kém kế nghiệp Đường mà người ta gọi là thời Ngũ Đại (907-960): Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu, hay là thời Thập Quốc trong đó nước Nam Hán có liên hệ nhiều đến An Nam / Giao Châu trong việc tranh giành quyền lực nơi này.

Liên hệ với biến động Hoàng Sào, dân phủ An Nam nổi dậy đuổi Tăng Cổn bỏ chạy để trống quyền hành trung ương ở thuộc địa. Sau đó cũng có dấu vết những người được phái tới nhưng họ đã không có mặt ở nhiệm sở hay chỉ giữ chức vụ một cách thoảng qua. Cho đến khi nhà Đường mất (907), nhà Lương lên thay thì danh vị Tiết độ sứ quân Tĩnh Hải, nghĩa là trên đất An Nam, tuy được Lương trao cho Lưu Ẩn nhưng đồng thời ngay trên đất này cũng đã xuất hiện một tập họp quyền hành dưới tay họ Khúc ở địa phương: Khúc Thừa Dụ (+907), Khúc Hạo (+908), Khúc Thừa Mĩ cũng tự xưng là Tiết độ sứ. Tiếp theo những biến động tranh giành quyền lực, họ Lưu thành lập nước Nam Hán riêng (917) với vua mang tên cuối cùng là Lưu Cung, sai tướng đem quân đánh bắt Khúc Thừa Mĩ (930), chiếm giữ An Nam.

Những ghi chép mù mờ đương thời như thế cho thấy việc họ Khúc chiếm quyền ở An Nam không đưa đến xáo trộn lớn, chỉ là do sự trống vắng quyền lực nơi này đã khiến một tập họp hào trưởng trong vùng đồng bằng lên thay thế mà không gặp trở ngại nhiều. Họ chỉ là người tại chỗ, tiện đường đi chiếm phủ thành Đại La gần gũi, và do đó được mang danh vị đại diện toàn thể. Điều đó cũng chứng tỏ sự yếu ớt của họ Khúc này – yếu ớt tỏ lộ trong sự đối đầu với lực lượng bên ngoài, với quân nhà Nam Hán khi họ đến đánh bắt. Rồi cũng liên tiếp với sự trống vắng về trước kia mà nhà Nam Hán vẫn phải chịu buông lỏng cho các thế lực địa phương khác nắm giữ được lực lượng riêng chống lại, trong đó có các họ Kiều/Kiểu, họ Ngô bên lề trung châu và nhất là họ Dương ở Ái Châu. Sự tan rã của phủ Đô hộ An Nam làm phân tán quyền lực ra thành những vùng nhỏ, có thể xuống đến cả những đơn vị tập họp làng xã theo như cách nói của chúng ta ngày nay. Do đó chúng ta cũng không lấy làm lạ về sự xuất hiện bất chợt của những con người lịch sử mà chúng ta không tìm ra được cội nguồn chủng tộc, địa vị xã hội rõ ràng. Họ Khúc nổi lên lần đầu, chỉ được nhắc nhở như một “hào trưởng” của đất Hồng, vùng hạ du trung châu sông Hồng, họ Kiều/Kiểu cũng thế trên vùng đỉnh tam giác châu. Họ Dương vùng Ái Châu có vẻ liên hệ đến Dương Thanh thế kỉ VIII nhưng cũng không chắc. Còn họ Ngô, Đinh mà ta nghe nói đến chức vụ thứ sử một châu (Ngô Mân châu Phong, Đinh Công Trứ châu Hoan) thì vì thuộc giai đoạn sau nên có thể là từ những vụ phong chức của họ Dương cho các lãnh tụ địa phương.

Tuy nhiên việc giành quyền phải đòi hỏi đến sức mạnh cho nên ta thấy sự thành công là từ những liên minh lớn lấn át các liên minh nhỏ, hoặc các lực lượng đơn độc. Dương Đình Nghệ đem quân đánh đuổi cả Thứ sử Lí Tiến lẫn viện binh Trần Bảo của Nam Hán để chiếm lấy thành, xưng là Tiết độ sứ, cai trị An Nam. Gọi là người có riêng ba ngàn “con nuôi” mưu đồ sự nghiệp nhưng dấu vết về sau cho thấy Dương đã liên hiệp với họ Ngô phía tây phủ thành theo đường lối kết thông gia để tăng cường lực lượng. Tổ chức hành chính An Nam đã thành truyền thống nên việc chiếm Đại La được coi như là chiếm cả phủ Đô hộ, và những người chậm chân bên ngoài phải trở về vị trí thần thuộc dù muốn hay không. Kiểu Công Tiện, người giết Dương Đình Nghệ, được sử xếp vào hàng “nha tướng” của ông tân Tiết độ sứ, là theo đường hướng đó của tình thế. Cho nên không thể nói rằng ông đã “phản bội” Dương. Địa vị tinh thần tối cao dành cho những người đàn bà họ Dương về sau có vẻ là biểu hiện sự công nhận mà người đương thời nhìn về công tích đuổi Nam Hán của ông tổ họ này, đã chứng minh thêm điều sử kí chưa nói đủ. Liên minh họ Kiểu bó gọn ở một vùng hẹp hẳn không bằng liên minh Ngô Dương có thế lực cả Giao Châu lẫn Ái Châu, cho nên Ngô Quyền mới đem quân đánh giết được họ Kiểu, tóm thâu quyền lực chờ đón chống quân Nam Hán.

Ngô Quyền người Giao Châu, tất không xa lạ với cung cách phòng thủ đã được các nhà cai trị phủ Đô hộ đề ra suốt hai thế kỉ từ Trương Bá Nghi, Trương Chu đến Cao Biền gần hơn, hẳn còn dấu vết hiện đại với chiến thuyền và kĩ thuật cắm cọc chống đánh trên đường thuỷ như kết quả số đo C14 thấy trên một số cọc gỗ Bạch Đằng kiểm tra được ngày nay. Thế là quân Hoằng Tháo thảm bại, không kịp cho ông hoàng tử mang tước hiệu Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ đạt thành mộng làm Giao (Châu) Vương của chúa Nam Hán Lưu Cung (938). Ngô Quyền xưng vương, phủ Đô hộ trở thành nước Đô Hộ, thêm một bước dứt khoát đi đến độc lập.

Chiếm giữ Đại La xong, Ngô Quyền không đóng đô nơi phủ trị cũ mà lại tìm một vị trí bên lề để canh chừng. Tại sao? Vì còn tự ti thấy mình chưa đủ sức thay thế chủ cũ? Vì cái thế Đại La trống trải trong tầm sông nước dễ dàng cho sự xâm lấn của Nam Hán so với Cổ Loa khuất lấp hơn một ít mà vẫn còn có ngôi thành Kén của Mã Viện làm thế đương cự? Dù sao thì sự từ chối Đại La cũng là một dấu vết co cụm để tính chất địa phương nổi lên không những chỉ trong gia đình ông mà còn thấy trong cách ứng xử của các tập đoàn quyền lực khác ở phủ Đô hộ cũ nữa. Các sứ quân thế là vẫn hiện diện trước khi có danh xưng này của các sử quan ghép vào thời gian cuối triều đại.

Cách xếp đặt kỉ cương cho guồng máy cai trị không cho ta thấy điều gì riêng biệt trừ tên bà Dương Hậu liên kết với danh vị của người anh: Dương Tam Kha (Cậu/Bác Ba họ Dương) giải thích những biến động về sau, liên hệ đến truyền thống gia đình đương thời. Ông mất đi năm 944, để người anh vợ theo thói tục của gia đình mẫu hệ, toàn quyền lựa chọn người kế nghiệp là Ngô Xương Văn trong số năm anh em cùng mẹ. Tất nhiên là với mối sinh hoạt phụ hệ Trung Quốc cũng đã thành nếp ở phủ Đô hộ, người con lớn là Ngô Xương Ngập không chịu thiệt thòi nên xảy ra tranh giành để ta thấy nổi lên những lãnh chúa của phủ Đô hộ tan rã chen vào can thiệp và sẽ là những sứ quân của đời sau. Đó là Phạm Phòng Át chứa chấp Ngô Xương Ngập, Đỗ Cảnh Thạc và một người họ Dương khác, Dương Cát Lợi, gắn bó với Xương Văn, lật đổ Dương “Chủ tướng,” thu thập Xương Ngập. Đó là những người nổi loạn ở hai thôn Đường, Nguyễn làm chết Xương Văn (965), người cuối cùng của họ Ngô đủ sức cầm binh tướng cho có một giả định quyền hành của triều đại. Loạn “Mười hai sứ quân” bắt đầu.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s