Lời nói đầu gia phả 2012 dòng họ Phùng Quốc Công

LỜI NÓI ĐẦU

“Nhà có gia phả như nước có quốc sử. Quốc sử ghi chép sự tiến bộ của nòi giống, những truyền thống quật cường của dân tộc và những công lao dựng nước, giữ nước của các bậc anh hùng dân tộc và sức mạnh của toàn dân. Gia phả ghi chép những tiến triển của một dòng họ, những công đức của tổ tiên và những biến dị, di truyền của một dòng họ. Đọc quốc sử ta thấy sục sôi ý trí quật cường của dân tộc. Đọc gia phả ta biết rõ nguồn gốc của tổ tiên và ý trí của ông cha làm cho bản lý lịch của bản thân ta, anh em con cháu ta càng thêm sáng tỏ. Ta thấy tình cảm giữa người và người càng thêm gắn bó và tình cảm họ càng thắm thiết hơn. Đọc gia phả ta được tăng lòng yêu quý xóm làng họ mạc do tổ tiên xây dựng. Ta còn hiểu thêm nguồn gốc sự nghèo khổ của ông cha, quyết tâm theo gót ông cha làm cách mạng chông xâm lăng đại đoàn kết dân tộc để xây dựng nước nhà ngày càng văn minh giàu mạnh”.

(Trích lời nói đầu Gia phả họ Phùng My Động năm 1993)

Kể từ khi Thủy Tổ phát sinh dòng họ (khoảng năm 1735) cho đến nay đã có 12 thế hệ [1](khoảng 277 năm). Từ thế hệ 4 trở đi, tổ tiên ta bắt đầu có quan tâm đến việc lưu giữ thông tin thông qua các câu chuyện gia đình, thông qua ghi chép, cúng giỗ. Tuy nhiên cho đến nay, những ghi chép xưa cũ đã hầu như không còn, những ký ức và ghi chép ít ỏi còn lại thì cũng không được liên tục và đầy đủ như kỳ vọng của con cháu sau này. Điều đó cũng dễ hiểu bởi lịch sử dòng họ gắn liền với sự thăng trầm của đất nước. Dù có muốn thì tổ tiên ta cũng khó mà duy trì được thông tin trong hoàn cảnh mà sự sống và cái chết của mình luôn bị đe dọa bởi giặc ngoại sâm, giặc đói,… Cũng có thể có những ghi chép nhưng lại bị thất thạc do chiến tranh, loạn lạc, do tình thế kinh tế-chính trị đương thời, do không có đủ phương tiện lưu trữ tốt,… Nhưng một điều vô cùng giá trị là các thông tin về tổ tiên được lưu trữ, truyền miệng từ đời này sang đời khác bằng những cầu chuyện gia đình, bằng những ghi chép cúng giỗ. Đó là những câu chuyện về Thủy Tổ, về các cuộc di cư, về sự ly tan, về sự đoàn tụ, thậm chí cả những câu chuyện về giai đoạn suy yếu, những mâu thuẫn cục bộ của dòng họ. Có rất nhiều gia đình để lại những ghi chép về ngày giỗ của tổ tiên tới 3, 4, 5 thế hệ. Tất cả đều hết sức sống động, giá trị thông tin cao, đáng trân trọng và cần phải được ghi chép lại một cách chân thực, khoa học và đầy đủ để giáo dục truyền thống cho các thế hệ.

Những ghi chép xưa nhất về dòng họ ta còn lưu trữ được đó là gia phả họ Nguyễn Đức[2] (do ông Nguyễn Đức Tuyển (8) chủ biên), gia phả họ Phùng thôn Khả (do ông Phùng Văn Hưởng (7) chủ biên), gia phả họ Phùng My Động (xuất bản năm 1993 do ông Phùng Văn Anh (9) chủ biên). Cả 3 gia phả này có điểm chung là đều được dựng từ những năm của thế kỷ XX, đều là những tài liệu hết sức quý báu, được xây dựng công phu bằng trí tuệ, tâm đức sáng ngời của những người chủ biên, những người tham mưu và Hội đồng Gia tộc đương thời. Cả 3 gia phả đã nêu được phả hệ của nhiều thế hệ. Phần phả hệ được trình bày theo phương pháp chiều ngang (tức là trình bày cá nhân thành viên dòng họ theo từng đời, hết đời 1 sang đời 2, đời 3, cho đến hiện tại), ưu điểm của phương pháp này giúp ta định vị được cá nhân thành viên trong dòng họ thuộc đời nào một cách dễ dàng để từ đó nhận ra vai về của từng người. Nó khó theo dõi để nắm thông tin chi tiết từng chi, nhánh, hệ nào đó của gia phả, nhất là việc xác định ai là hậu duệ của ai sẽ gặp những khó khăn và mất thời gian để đối chiếu.

Gia phả họ Nguyễn Đức và gia phả họ Phùng thôn Khả được dựng trên nền giấy cũ bằng chữ Nho. Ông Nguyễn Đức Tuyển (8) và các chư vị đương thời tại Vĩnh Bảo có những nhận định khá mới mẻ khi đã cho dựng và sao lưu ra nhiều bản khác nhau cho từng chi để nắm bắt thông tin và truyền cho đời sau, nhiều người còn lưu giữa bản gốc mà ta có thể tiếp cận như: bản gốc tại gia đình ông Nguyễn Đức Thanh (9), bản gốc tại gia đình ông Nguyễn Đức Điền (8),… Bản gốc Gia phả họ Phùng thôn Khả được bà Ế (vợ ông Phùng Văn Ế (9)) lưu trữ nâng niu, cẩn thận trong ống tre, tuy nhiên do chất liệu xưa cũ và đã để lâu ngày nên cuốn gia phả này bị hư hại nhiều. Ngoài ra họ Phùng tại thôn Khả cũng đã dựng phả đồ khá quy củ, tuy nhiên trên phả đồ không thể hiện rõ được việc ai sinh ra ai! Cả hai cuốn gia phả chữ Nho kể trên thực chất là những phả hệ hoặc phả đồ, không có ghi chép về lịch sử dòng họ, không ghi cụ thể niên đại trong khi chỉ phân biệt được các thế hệ trong gia phả, muốn biết rõ ai là con ai, ai là anh em ruột,… thì chỉ còn cách hỏi các nhân chứng.

Về cuốn Gia phả họ Phùng My Động xuất bản năm 1993 do ông Phùng Văn Anh (9) (ông Y – cử nhân sư phạm, nhà Nho đương đại hiếm có của dòng họ) chủ biên cùng Hội đồng gia tộc đương thời xây dựng. Khi nói về cuốn gia phả này thì cần phải nói đến nhiều bản ghi khác cho các chi, các ngành, từ đó phối hợp thành một hệ thống gia phả của cả họ Phùng My Động. Cuốn gia phả này được lập bằng chữ quốc ngữ, dễ đọc, có cả một số phả đồ kèm theo. Hiện nay có một quyển gốc ghi xuất đinh được ông Phùng Quốc Hưng (9) lưu trữ. Nhiều quyển được in sao cho ngành 1, một số chi nhánh có thể tiếp cận dễ dàng (ngành 2 và ngành 3 chưa có các quyển riêng). Xem gia phả này ta có thể biết rõ thứ tự trên dưới, anh em ruột,… Đáng lưu ý, Gia phả này ghi tới 16 thế hệ (chứ không phải 12 thế hệ) trong vòng hơn 200 năm từ Thủy Tổ! Đặc biệt, mục ghi về ngành 2, ngày 3, ngành 4, từ thế hệ thứ 4 đến thế hệ 9 – theo thứ tự thế hệ của gia phả 1993- không thấy có ghi chép! Ngành 1 đầy đủ thông tin cho các thế hệ nhưng có điều đặc biệt là thế hệ 4 đến thế hệ 8 (theo thứ tự thế hệ của gia phả 1992) chỉ có độc đinh! Ngoài ra, gia phả này không có ghi chép về ngành ở Vĩnh Bảo, thôn Khả. Qua gia phả này ta thấy Ngành 1 sở tại có nhiều thông tin nhất và đầy đủ nhất, có các bản in cho từng chi nhánh, có danh sách phát triển trí tuệ tài năng, danh sách người có công với đất nước, có sơ đồ khu mộ, có hầu hết các ngày giỗ của những người đã khuất tính từ thế hệ 8 trở tới đương thời. Các ghi chép về ngành 2, ngày 3, ngành 4 ngoài việc thiếu một số thế hệ như nêu trên thì còn thiếu nhiều thông tin như ngày giỗ, khu mộ, danh sách phát triển trí tuệ tài năng, người có công với đất nước,… Cho đến gần đây, những năm đầu của thế kỷ XXI, các chi ngành tại My Động có quan tâm nhiều hơn đến công việc chung vì thế các ghi chép về ngành 2 ngành 3, ngành 4 mới được bổ sung nhưng nhìn chung vẫn còn những dở dang và trăn trở. Tuy nhiên, với lượng thông tin phong phú đó ta có thể thấy được rằng để dựng lên cuốn gia phả này, người chủ biên và cộng sự đã rất vất vả, tốn nhiều thời gian, công sức và là những người có trí tuệ minh mẫn, có tâm với dòng họ.

Ngoài cuốn gia phả 1993 và các bản ghi thông tin kèm theo trên, chúng ta còn phải kể đến cuốn “lịch sử và sự phát trển dòng họ Phùng thôn My Động, xã Tiền Phong, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương” gồm 15 trang A4, do ông Phùng Quang Lãm (8) chủ biên cùng Hội đồng gia tộc xuất bản tháng 3 năm Bính Tuất (4/2006). Đúng như tiêu đề, cuốn tài liệu này ngoài việc đề cập tới “nguồn gốc” dòng họ, việc xây mộ tổ, dựng từ đường dòng họ, còn lại chủ yếu đề cập tới sự hình thành, việc tham gia bảo vệ và xây dựng đất nước, về phát triển kinh tế, văn hóa, về việc lập gia phả, tôn tạo phần mộ của họ Phùng tại My Động, không có ghi chép về ngành ở Vĩnh Bảo, ở thôn Khả.

Như vậy, tại Vĩnh Bảo và thôn Khả, việc ghi chép, dựng gia phả dành được những quan tâm và có những kết quả nhất định. Tại My Động, hệ thống gia phả và những ghi chép về dòng họ có các thông tin phong phú. Trong hoàn cảnh thông tin không có nhiều, những nỗ lực đó thật quả cảm và giá trị. Tuy nhiên, chưa thực có một ghi chép thống nhất và toàn diện về cả dòng họ – cùng một Thủy Tổ Phùng Quốc Công.

Những năm trở về đây, đất nước có nhiều đổi mới, các hậu duệ họ Phùng Quốc Công nhiều nơi có kinh tế khả giả, nhiều người đỗ đạt, học thức và nhận thức cao. Kể cả những người ở nông thôn thì đời sống vật chất tinh thần cũng tốt hơn. Ngày nay, đang có xu hướng rất đáng khuyến khích, đó là việc hướng về tổ tông. Người ta có điều kiện để quan tâm nhiều hơn tới việc thờ cúng, tới phần mộ, tới những sinh hoạt truyền thống của dòng họ. Với xu thế mới, đòi hỏi cần có một sự ghi chép thống nhất và toàn diện về dòng họ. Hơn thế nữa, việc nghiên cứu lịch sử phát triển và gia phả dòng họ bản thân nó cũng có sức hấp dẫn đặc thù.

Cuốn gia phả này đặt tên là “Gia phả dòng họ Phùng Quốc Công”, được manh nha từ năm 2009. Tuy nhiên công việc thực sự có nhiều tiến triển mạnh vào đầu năm 2012 nhân sự kiện “Lễ hội Thanh minh Giỗ Tổ lần thứ 7”. Việc xây dựng và đặt tên cuốn gia phả này –“Gia phả dòng họ Phùng Quốc Công” – là sự quyết tâm rất lớn, vượt qua những suy nghĩ cục bộ, tăng cường sự đoàn kết toàn dòng họ, thể hiện sự trân trọng thủy tổ, người khai sinh ra dòng họ. Vì thế nó đã được các ông chủ tịch Hội đồng Gia tộc tại My Động, tại Vĩnh Bảo, tại thôn Khả và nhiều người có tâm huyết với dòng họ ủng hộ, cổ vũ mạnh mẽ.

Để xây dựng thành công gia phả này, hàng chục chuyến đi điền dã đã được tiến hành như: khảo sát, chụp ảnh các khu mộ; phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng; thu thập, chụp ảnh các gia phả, các ghi chép tại các gia đình, các chi ngành tại xã Tiền Phong-Thanh Miện, xã Vinh Quang-Vĩnh Bảo-Hải Phòng, xã Duyên Hải-Hưng Hà- Thái Bình, xã Tống Trân và Tống Phan- Phù Cừ- Hưng Yên. Nguồn tư liệu quý giá cho gia phả này chính là các Gia phả họ Phùng My Động năm 1993, Gia phả họ Nguyễn Đức và Gia phả họ Phùng thôn Khả.

Theo kỳ vọng, Gia phả này được dựng một cách khoa học và toàn diện, theo hướng phản ánh tính trung thực lịch sử, tình đoàn kết của gia tộc, truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Gia phả hướng tới bố cục gồm các phần sau: lời nói đầu, phả ký, phả đồ, phả hệ, ngoại phả và phụ khảo. Trong đó phần phả đồ sẽ được in thành khổ lớn có đầy đủ họ tên toàn gia tộc từ thủy tổ đến hiện tại, chỉ rõ anh em, bố mẹ, ông bà, tổ tiên. Ngoài ra một số phả đồ nhỏ sẽ được tách ra bổ sung cho phần phả hệ được tường minh. Phần phả hệ sẽ được trình bày theo phương pháp tổng hợp (kết hợp phương pháp theo chiều ngang và phương pháp theo chiều dọc): cắt dọc phả hệ ra từng phần nhỏ (ngành, chi, nhánh, gia đình), ở phần nhỏ trình bày theo phương pháp chiều ngang. Với phương pháp trình bày phả hệ này sẽ khắc phục những nhược điểm của các giả cũ như đã nêu ở trên. Phần phả ký sẽ là những ghi chép phản ánh lịch sử một cách trung thực. Đặc biệt phần ngoại phả và phụ khảo là những phần mới mà những gia phả cũ không có.

Để đảm bảo tính khoa học, dựa trên cở sở thực tế, Ban biên tập đã phân chia gia phả này thành các Ngành, Chi, nhánh, gia đình,… Theo đó, họ Phùng Quốc Công được chia ra thành 4 ngành, gồm: Ngành Vĩnh Bảo, Ngành 1, Ngành 2 và Ngành 3. Trong đó,

–       Ngành Vĩnh Bảo bao gồm: Chi Khả (họ Phùng tại thôn Khả, Duyên Hải, Hưng Hà, Thái Bình); Chi 1 (là chi hậu duệ của ông Phùng Văn Chuộng (7)); Chi 2, Chi 3, Chi 4, Chi 5 (họ Nguyễn Đức, gốc họ Phùng).

–       Ngành 1, tại My Động gồm 3 chi: Chi 1 (có bao gồm cả Nhánh Chi Đĩnh Đào, Gia Lộc), Chi 2 (có bao gồm cả Nhánh Chi Đỗ tại Trà Dương) và Chi 3.

–       Ngành 2, tại My Động gồm 4 chi: Chi 1, Chi 2, Chi 3 và Chi 4.

–       Ngành 3, tại My Động, gồm 5 chi và ngành 4 cũ sát nhập: Chi 1 (gồm Nhánh Chi tại thôn Quán, Duyên Hải), Chi 2, Chi 3, Chi 4, Chi 5, Chi Ngành 4.

–       Các hậu duệ tuy ở xa, đã thành lập Chi để thuận lợi cho việc liên lạc và sinh hoạt truyền thống. Tuy nhiên, trong gia phả này, những người định cư ở xa đó, đều thuộc một trong các Chi, Ngành nêu trên, theo quan hệ huyết thống.

Trong Gia phả này, vì có tới 12 thế hệ nên đã có nhiều phân vân về đại từ xưng hô, rất khó để xưng hô là cụ hay kỵ, tổ, sơ tổ hay cụ tổ, hoặc một đại từ nào đó cho thực sự chính xác. Bởi đối với một người nào đó, con cháu họ thì gọi là cô chú, bác, dì, cha, mẹ hay ông bà, nhưng cũng có người gọi là em, anh, chị, hoặc cháu chắt, lại cũng có người phải gọi bằng cụ, kỵ, thậm chí là tổ tiên nhiều đời,… cứ như vậy thì không biết gọi sao cho hợp lý. Nhưng gọi tất cả là cụ thì rất dễ bị hiểu nhầm là hỗn láo vì ai cũng bằng vai với ai, và nếu gọi là cụ thì lại không thể phân biệt được giới tính. Như vậy, để phù hợp với muôn đời sau cũng như thuận tiện trong ghi chép, Ban biên tập quy ước xưng danh ông/ bà để thể hiện sự trang trọng và phân biệt giới tính chứ không phải ông/ bà trong đại từ xưng hô- thể hiện vai vế. Còn về thứ tự thế hệ, vai vế, người đọc sẽ dễ dàng nhận ra do phả đồ rất cụ thể và các ghi chú đính kèm. Chẳng hạn số trong ngoặc đơn () chỉ thế hệ, ví dụ: (10) thế hệ thứ 10. Hai chữ chỉ 2 mốc năm trong ngoặc kép (nnn1-nnn2) chỉ năm sinh năm mất, ví dụ: (1934-1994) năm sinh 1934, năm mất 1994. Theo truyền thống, ngày giỗ trong gia phả này tất nhiên là ghi theo âm lịch. Ngày sinh và năm sinh (nếu có) ghi theo dương lịch, một số trường hợp ghi theo âm lịch sẽ có chu thích kèm theo.

Về thứ tự các con trong gia đình, trong các gia phả và ghi chép cũ đã có sự không nhất quán, có lúc ghi thứ tự con trai trước, con gái sau, có lúc thì ghi theo tứ tự con từ lớn đến bé, thậm chí những người con trai lớn không sinh con hoặc chỉ có con gái thì xếp sau em trai mình. Hoặc có trường hợp ghi theo “xuất đinh” nghĩa là chỉ ghi con trai, không ghi con gái. Để thống nhất ghi chép, gia phả này nỗ lực ghi một cách đầy đủ theo thứ tự không phân biệt con trai hay con gái, ai sinh trước ghi trước. Mặt khác, gia phả chỉ ghi tên những người con của con trai, nói cách khác, đó là những người có thiên chức duy trì nòi giống của dòng họ mình. Đây không phải quan điểm trọng nam khinh nữ, mà những người con của các con gái mang họ của bố đã thuộc dòng họ khác và được theo dõi ở gia phả họ bố, chúng ta có thể tham khảo khi cần. Một số trường hợp con của con gái theo họ mẹ thì vẫn theo dõi bình thường như những người con của con trai. Các bà vợ của các ông trong họ (gọi chung là nàng dâu) vì đã về làm dâu họ Phùng hiển nhiên phải theo dõi, thống kê đầy đủ nhất có thể.

Tuy nhiên một phần do lịch sử để lại, một phần do việc thu thập hay cung cấp thông tin còn thiếu đồng bộ nên trong quá trình xây dựng Gia phả này, có người nhiều thông tin, có người ít thông tin, thậm chí có người không có những thông tin cơ bản như tên, ngày giỗ,… Đó không phải sự thiên vị, quý mến hay ghét bỏ ai đó, đơn giản là gia phản muốn phản ánh đầy đủ thông tin nhất có thể, ai không có thông tin hoặc chưa cung cấp thông tin thì đành để trống. Có những khó khăn mà chưa khắc phục được và có những phần việc chưa thể hoàn thành như: thứ tự anh em trong gia đình có thể chưa đúng, sai chính tả, đánh nhầm tên, đệm, đánh nhầm thứ tự thế hệ, ngày tháng năm sinh hầu như chưa có, ngày giỗ có thể nhầm hoặc chưa có,… Mong muốn thì nhiều, kỳ vọng cũng nhiều nhưng sức người có hạn, nhiều việc cảm giác như “lực bất tòng tâm”. Vì thế thật khó mà tránh khỏi những thiếu sót. Mong rằng những thiếu sót này sẽ được các thành viên trong dòng tộc nhiệt tình góp ý, phản biện,… để các lần xuất bản sau hoàn thiện hơn. Cũng mong rằng, các hậu duệ sau này có được trí tuệ, công cụ và phương pháp tốt hơn để những trang sử truyền thống của dòng họ mãi mãi được duy trì, có sức hấp dẫn và có nhiều thông tin hơn.

Xin chân thành cảm ơn!

Xuân Nhâm Thìn 2012

Ban biên tập



[1] Theo gia phả họ Phùng My Động năm 1993, thì dòng họ Phùng Quốc Công, cho đến nay, đã có 16 thế hệ. Tuy nhiên theo nghiên cứu của chúng tôi thì dòng họ mới chỉ phát sinh đến thế hệ thứ 12, tức ít hơn gia phả cũ 4 thế hệ. Xin vui lòng xem phần phụ khảo để rõ hơn.

[2] Gốc họ Phùng, vui lòng xem phụ khảo.

Advertisements

One thought on “Lời nói đầu gia phả 2012 dòng họ Phùng Quốc Công

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s